DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

                                                         Ths. Nguyễn Thị Vân Giang

                                                                Trưởng khoa Nhà nước - Pháp luật

I. Tác dụng của phương pháp giảng dạy tình huống trong các bài giảng luật

Phương pháp giảng dạy đóng vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu đào tạo. Đối tượng học viên tại các Trường Chính trị là đội ngũ cán bộ công chức đang thực thi nhiệm vụ. Mục tiêu của đào tạo không dừng lại ở việc cung cấp tri thức mà quan trọng hơn là rèn luyện kỹ năng giải quyết, xử lý công việc; kỹ năng giải quyết các tình huống phát sinh trong đời sống xã hội. Đối với các bài giảng luật, việc cung cấp cho học viên các kỹ năng áp dụng pháp luật để giải quyết các tình huống phát sinh càng cần thiết. Để đạt được mục tiêu đó, việc giảng dạy, học tập thông qua các tình huống được đánh giá là một phương pháp giảng dạy hiệu quả vì các lý do sau:

Thứ nhất, phương pháp giảng dạy tình huống tăng cường khả năng tư duy, phân tích và giải quyết vấn đề của người học, giúp người học dễ hiểu và dễ nhớ các vấn đề lý thuyết.

Danh ngôn có câu: “Nói cho tôi nghe, tôi sẽ quên

                                 Chỉ cho tôi xem, tôi có thể không nhớ

                                 Lôi cuốn tôi tham gia, tôi sẽ hiểu”

Các ngành khoa học xã hội nói chung, ngành luật nói riêng, học chỉ dừng lại ở nghe thầy giảng, nhìn thầy viết thì người học rất dễ quên. Nhưng nếu học luật thông qua các tình huống pháp luật, học viên được phân tích, thảo luận, được đóng vai người giải quyết tình huống buộc họ phải nghiên cứu, phải tư duy để có cách thức giải quyết tình huống. Qua đó người học có thể tự rút ra những kiến thức lý luận bổ ích và ghi nhớ những kiến thức này một cách dễ dàng trong thời gian dài. Thực tế cho thấy, người học cảm thấy thích thú và có động lực học tập khi được giao giải quyết các tình huống.

Thứ hai, dạy và học bằng tình huống giúp người học có cơ hội để liên kết, vận dụng các kiến thức đã được học

Để giải quyết một tình huống, học viên có thể phải vận dụng đến nhiều kiến thức lý thuyết khác nhau trong cùng một môn học hoặc của nhiều môn học khác nhau. Ví dụ, để giải quyết một tình huống thực tế về yêu cầu phân chia di sản thừa kế, người học phải vận dụng các kiến thức của luật dân sự quy định về thừa kế như quy định về di sản, người để lại di sản, người thừa kế theo pháp luật, người thừa kế theo di chúc…, ngoài ra còn phải sử dụng kiến thức của các ngành luật khác như luật hôn nhân gia đình, luật hành chính về quản lý hộ tịch để xác định điều kiện của người thừa kế…

Thứ ba, phương pháp giảng dạy tình huống giúp cho người học có thể rèn luyện một số kỹ năng cơ bản như kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết trình. 

Kỹ năng làm việc nhóm, tranh luận và thuyết trình là những kỹ năng quan trọng của cán bộ công chức trong quá trình thực thi công vụ. Việc giảng dạy bằng phương pháp tình huống sẽ giúp học viên hình thành các kỹ năng này. Vì: các tình huống thường có tính phức tạp, đòi hỏi người học phải hợp tác với nhau theo nhóm. Nhóm tiến hành thảo luận, tranh luận tìm ra giải pháp giải quyết tình huống. Quá trình thảo luận, tranh luận giúp người học phát triển các kỹ năng phát biểu trước đám đông một cách khúc chiết, mạch lạc, dễ hiểu; phân tích vấn đề một cách logic; hiểu biết thực tế sâu rộng, biết vận dụng linh hoạt lý thuyết để giải quyết các tình huống thực tế; biết phản biện, bảo vệ quan điểm cá nhân, đồng thời có khả năng thương lượng và dễ dàng chấp nhận các ý kiến khác biệt, biết lắng ghe và tôn trọng ý kiến của người khác để làm phong phú hơn vốn kiến thức của mình.

Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của giáo dục đào tạo là dạy kiến thức, kỹ năng và thái độ thì phương pháp giảng dạy tình huống nếu được áp dụng tốt có thể đạt được cả ba mục tiêu này.

Thứ tư, giảng viên khi áp dụng phương pháp giảng dạy tình huống vừa có thể hướng dẫn, chia sẻ tri trức, kinh nghiệm cho học viên, đồng thời họ cũng có thể học hỏi được những kinh nghiệm, thông tin, giải pháp mới từ học viên để làm giàu vốn tri thức và phong phú hơn bài giảng của mình, nhất là từ những học viên đã có quá trình công tác thực tiễn. Qua quá trình hướng dẫn sinh viên nghiên cứu tình huống, giảng viên cũng có thể phát hiện ra những điểm bất hợp lý hoặc sai sót của tình huống và có những điều chỉnh nội dung tình huống sao cho phù hợp.

II. Yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng các tình huống pháp luật

Để tình huống pháp luật áp dụng trong giảng dạy đạt được các mục tiêu của giáo dục thì tình huống được xây dựng cần phải đảm bảo các yêu cầu sau đây.

Một là, tình huống phải có tính thực tiễn

Tình huống luật là một bản tường trình lại một vụ án hoặc vụ việc pháp lý đã xảy ra trên thực tế. Một tình huống lấy từ thực tiễn bao giờ cũng được đánh giá rất cao. Người học cảm thấy hào hứng hơn khi được tham gia vào một tình huống có thật. Vì vậy khi xây dựng tình huống:

- Không nên tự nghĩ ra bởi sự “sáng tạo” này rất dễ dẫn đến những mâu thuẫn hoặc đưa ra những chi tiết không hợp lý mà người xây dựng tình huống không thể lường trước.

Ví dụ: Trong một tình huống đưa ra phục vụ cho việc giảng dạy phần “chế định kết hôn” (phần Luật Hôn nhân và Gia đình), người viết tình huống nêu “anh Hoàng Mạnh Hà và chị Lê Thu Minh được Ủy ban nhân xã Hòa Hậu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 01/01/2013. Đến ngày 12/6/2013, Ủy ban nhân xã Hòa Hậu nhận được đơn tố cáo của công dân về việc chị Lê Thu Minh chưa đủ tuổi kết hôn. Là Chủ tịch Ủy ban nhân xã Hòa Hậu, đồng chí giải quyết sự việc trên như thế nào?”. 

Chúng ta có thể nhận ra sự bất hợp lý trong tình huống nói trên liên quan đến ngày làm việc của cơ quan nhà nước: ngày 01/01/2003 là ngày Tết dương lịch nên Ủy ban nhân xã Hòa Hậu không thể cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cho anh Hà, chị Minh.

- Cần tránh đưa ra những thông tin mang tính chất giả định vào tình huống như: “Anh A trộm cắp tài sản của B ở tỉnh X vào đầu năm 2009”, mà cần cụ thể hoá thông tin như: “Khoảng 3 giờ sáng ngày 03/01/2009, Nguyễn Văn Hạnh lẻn vào nhà anh Mai Văn Lâm ở số nhà 86, đường Nguyễn chí Thanh, Quận Ba Đình, TP. Hà Nội trộm cắp xe gắn máy….”. Việc đưa ra thông tin “thật” này tạo cho người học tâm lý như họ đang nghiên cứu về một vụ án có thật, với những người thật, việc thật và họ được đặt vào trong hoàn cảnh giống như đang được giao một trọng trách với một vai trò cụ thể như thẩm phán, luật sư hay kiểm sát viên trong việc giải quyết vụ án đó. Khi đó họ sẽ cảm thấy hứng thú và có trách nhiệm với những quyết định, lập luận và giải thích của họ trong quá trình nghiên cứu tình huống.

Tuy nhiên, việc đưa tình huống thực tiễn vào giảng dạy không phải là việc sao chép nguyên xi mà cần có những cải biên phù hợp với ý đồ của người dạy và mục tiêu của bài giảng nhưng không được làm mất đi tính thực tiễn của tình huống.

Hai là, tình huống phải phù hợp với khả năng hiểu biết của học viên. 

Tình huống quá khó sẽ làm cho học viên cảm thấy công việc quá sức và cảm giác tự ti sẽ làm cho người học không còn hứng thú với môn học. Ngược lại, tình huống đơn giản, dễ giải quyết sẽ không thúc đẩy sự tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo của người học làm cho học viên thấy bài học tẻ nhạt, buồn chán, không hữu ích. Vấn đề khó khăn của người xây dựng tình huống là cần hiểu rõ năng lực của học viên, đặt mình vào địa vị của người học để xây dựng những tình huống ở mức độ từ dễ đến khó trong khả năng của phần lớn học viên để họ có thể thực hiện nhiệm vụ của mình được đặt ra trong tình huống và họ thấy hứng thú với bài học.

Tình huống phải được xắp xếp theo trật tự kiến thức môn học. Trật tự trong nhận thức của người học cần phải được tôn trọng khi xây dựng các tình huống. Không thể yêu cầu người học giải quyết một vấn đề mà kiến thức dành để giải quyết nó lại chưa được cung cấp hoặc chưa yêu cầu người học tự nghiên cứu.

Ba là, tình huống phải có khả năng rèn luyện kỹ năng làm việc cho học viên

Một tình huống phù hợp đòi hỏi việc rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề từ phía người học. Người học cần phải thực hiện một hoặc một số hoạt động kỹ năng nhất định để đi đến kết luận như tra cứu văn bản pháp luật, vận dụng điều luật, xây dựng và bảo vệ ý tưởng trước tập thể nhóm, v.v..

Tình huống không nên quá đơn điệu, có thể đưa ra phương án giải quyết ngay mà cần phải tạo ra sự tranh luận giữa người học trong việc giải quyết tình huống tùy vào cách tiếp cận của người học. Tranh luận này làm cho việc giải quyết tình huống trở nên thú vị hơn; thông qua đó, người học thu hoạch được nhiều tri thức hơn. Ngay cả khi người học không đưa ra phương án đúng, người học vẫn ghi nhớ tốt hơn.

Thông tin đưa ra trong tình huống không bao gồm các phân tích, kết luận mang tính định hướng cho người học. Khi chúng ta đưa ra những kết luận mang tính gợi ý, nó sẽ hạn chế khả năng tư duy sáng tạo của người học, khiến người học thường chỉ suy nghĩ và lựa chọn một trong số các phương án mà tình huống đưa ra. Trong khi nếu để họ suy nghĩ độc lập, có thể họ sẽ đưa ra nhiều phương án giải quyết độc đáo và hay hơn những gợi ý mà giảng viên có thể nghĩ ra. Giảng viên có thể hỗ trợ cho người học những kiến thức cần thiết để giải quyết tình huống thông qua việc cung cấp cho người học những tài liệu liên quan trực tiếp đến việc tìm ra lời giải tình huống đó, kể cả việc giải đáp một số câu hỏi của học viên khi cần.

III. Quy trình thực hiện phương pháp tình huống trên lớp

Đối với các lớp học chương trình trung cấp lí luận chính trị tại trường Chính trị Hà Nam, số lượng học viên trong một lớp học tương đối đông (từ 60 học viên trở lên), việc sử dụng phương pháp tình huống trong giảng dạy thường được sử dụng kết hợp với phương pháp làm việc nhóm. Vì vậy, khi tiến hành phương pháp giảng dạy này cần được thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Lựa chọn tình huống phù hợp với mục tiêu giảng dạy.

Bước 2: Giới thiệu tình huống

Giảng viên có thể trình bày tình huống trên bảng hoặc trên trên giấy trao cho học viên hoặc chiếu một đoạn phim hay tạo một bối cảnh giống như tình huống để học viên đóng vai. Khi giới thiệu tình huống cần chú ý để học viên hiểu rõ các dữ kiện của tình huống và các vấn đề cần giải quyết. Nên hỏi lại để chắc rằng học viên đã hiểu đúng các thông điệp của tình huống.

Bước 3: Phân chia lớp học thành các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm và chỉ định nhóm trưởng để điều khiển nhóm làm việc.

Bước 4: Các nhóm thảo luận cách giải quyết tình huống. Giảng viên có thể  cung cấp các kiến thức vế mặt lý thuyết có liên quan đến tình huống đưa ra và cần thiết phải giải thích thật chi tiết  tình huống để học viên hiểu rõ các vấn đề cần giải quyết. 

Bước 5: Báo cáo kết quả giải quyết tình huống:  các nhóm theo thứ tự lên trình bày đề tài đã được phân công, nhóm phân công người trình bày, thời gian trình bày tối đa 15 phút; giảng viên yêu cầu các nhóm còn lại phản biện; giảng viên có thể bổ sung thêm các câu hỏi cho nhóm trình bày, học viên thảo luận các câu hỏi có liên quan. Mỗi học viên sẽ đóng góp ý kiến của mình về tình huống đưa ra.

Học viên trong các nhóm còn lại có thể trao đổi, thảo luận để phân tích làm rõ thêm những vấn đề đã được nêu ra trong tình huống, giải quyết các câu hỏi khác mà giảng viên đặt ra thêm trong tình huống.

Bước 6: Giảng viên tổng kết, nhận xét và đánh giá các nhóm: giảng viên tổng kết tình huống, rút ra kết luận các giải pháp có liên quan đến nội dung lý thuyết môn học. Sau khi ghi nhận các ý kiến của các nhóm, từng thành viên trong nhóm. Giảng viên sẽ dựa vào đó đánh giá vấn đề đang thảo luận. Có thể có những vấn đề không mang lại kết quả như mong muốn, có những vấn đề có kết quả đúng sai rõ ràng, nhưng giảng viên sẽ là người chịu trách nhiệm đưa ra kết luận cuối cùng về tình huống đó để giúp sinh viên có thể hiểu rõ hơn cách thức giải quyết của mình.

Tóm lại, giảng dạy bằng phương pháp tình huống có nhiều ưu thế với các bài giảng luật: giúp cho bài giảng gắn lý luận với thực tế, làm cho học viên chủ động, tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập; rèn luyện học viên khả năng tham gia vào giải quyết các tình huống pháp luật phát sinh trong thực tiễn. Để phát huy tối đa hiệu quả của phương pháp này đòi hỏi giảng viên phải có sự chuẩn bị các tình huống giảng dạy phù hợp với nội dung bài giảng và đối tượng người học.