DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

Giảng viên: Nguyễn Thanh Mai

Khoa: Nhà nước và Pháp luật

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ bão của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai đặc biệt là lũ lụt, bão, lũ quét, hạn hán.  Ngoài lũ, bão nước ta còn chịu tác động của nhiều loại thiên tai khác như: hạn hán, sa mạc hóa, xâm nhập mặn, tố lốc, sạt lở, động đất, sóng thần, nước biển dâng ở nhiều mức độ khác nhau. Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đã làm thiên tai gia tăng hơn nhiều về quy mô cũng như chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lường. Chỉ tính từ đầu năm tới nay, chúng ta đã chứng kiến những sự kiện bất thường về thiên tai như: nắng nóng, hạn hán ở Ninh Thuận và Trung Bộ; mưa lớn trái mùa ở Quảng ngãi; nhiệt độ giảm bất thường ở Sapa, Lào Cai; siêu dông lốc tại Hà Nội; mưa đặc biệt lớn tại Quảng Ninh, các cơn bão nối tiếp nhau ở Thái Bình Dương.

Về lũ: theo thống kê từ năm 1976 đến năm 2014, đã xảy ra 464 cơn bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động ở Biển Đông. Điển hình phải kể đến cơn bão Kate đổ bộ vào Hải Phòng 9/1995 nước dâng làm 699 người chết, 12.000 nhà bị đổ, tốc mái; cơn bão Linda đổ bộ vào Cà Mau, Bạc Liêu tháng 11/1997 làm 2.900 người chết và mất tích, gần 3.000 tàu thuyền bị chìm, bị mất tích.

Về lũ quét, lũ bùn đất: chúng ta đã chứng kiến trận lũ quét tháng 6/1990 trên suối Nậm Lay, thị xã Lai Châu đã quét toàn bộ phần cao trình thấp của thị xã, làm 82 người chết và mất tích; trận lũ quét tháng 9/2002 tại Hương Sơn, Hương Khê – Hà Tĩnh làm 83 người chết và mất tích; 370 căn nhà bị cuốn trôi.

Về ngập úng: Tình trạng ngập úng diễn ra thường xuyên tại một số thành phố ven biển: TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ... Hà Nội cũng chịu ngập úng lịch sử trong trận lũ tháng 11/2008 với 90 điểm ngập sâu từ 0,3 – 1,2m, khu vực Hoàng Mai ngập tới 2,5m.

Tháng 8/2017 mưa lớn trút xuống các tỉnh phía Bắc làm nhiều người chết và bị thương, sập đổ toàn bộ 3 ngôi nhà, hư hỏng 50 ngôi nhà, 21 hộ dân phải di dời; gần đây nhất tính từ ngày 10/10 đến 17 giờ ngày 13/10/2017 thiệt hại do áp thấp nhiệt đới và đợt mưa lũ lịch sử đã làm 83 người chết, 38 người mất tích, 31 người bị thương, 189 nhà bị sập, 30.827 nhà bị ngập, 1.948 nhà phải di dời khẩn cấp. Lũ lớn đã gây ra 60 sự cố trên các tuyến đê tại các tỉnh Thanh Hóa, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định. Nhiều tuyến đường giao thông vẫn chưa thông tuyến. Các xã Mường Bang, Sập Xa, huyện Phù Yên; Chiềng Yên, Song Khủa, Suối Bàng, Mường Men, Liên Hòa, Mường Tè, huyện Vân Hồ (tỉnh Sơn La); các xã vùng cao Đồng Nghê, Suối Nánh, Mường Tuổng, Đồng Chum, Mường Chiềng, Hưng Thi, An Bình... thuộc huyện Lạc Thủy (tỉnh Hoà Bình) hiện vẫn bị cô lập do chưa khắc phục được giao thông. Sự cố sạt lở đất vùi lấp 4 hộ dân với 18 người tại xóm Khanh, xã Phú Cường, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình tỉnh đã huy động trên 300 người cùng phương tiện, thiết bị để tìm kiếm cứu nạn. Có những gia đình mất hết cả những người thân sau một đêm do lũ quét và sạt lở đất tại tỉnh Thanh Hóa, yên Bái, Hòa Bình. Đau xót vô cùng.

Chỉ nhìn vào những con số thống kê về mức độ thiệt hại do lũ, lụt, sạt lở đất gây ra chúng ta mới thấy hết sự khốc liệt của thiên tai đã trực tiếp cướp đi sinh mạng của nhiều người, nhiều gia đình, đẩy một phận dân chúng, trong đó có những người nghèo nhất quay trở lại ranh giới đói nghèo. Điển hình nông trường Thống Nhất huyện Yên Định tỉnh Thanh Hóa bị ngập lụt đã làm 5.000 con lợn chết.

Chia sẻ những tổn thất về vật chất, những đau buồn mất mát người thân vùng bão, lũ chúng ta lại nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người luôn canh cánh trong lòng nỗi lo phòng chống bão lũ cho dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói thiên tai là kẻ thù của người dân, vì: “Nếu lụt thì đói. Lụt cũng là một thứ giặc ghê gớm. Người ta thường nói: “thủy, hỏa, đạo, tặc”. Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt như chống giặc ngoại xâm”. (Thư gửi đồng bào trung du và hạ du chống lụt” (tháng 6/1947)

Hiểu rõ tầm quan trọng của việc phòng chống thiên tai, cũng như thấy được hậu quả khắc nghiệt, nặng nề do thiên tai gây ra, ngay từ những ngày đầu giành độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, công tác phòng chống thiên tai là một cuộc chiến hết sức gay go, gian khổ và để chống lại “thứ giặc ghê gớm” đó, Người và Chính phủ không chỉ tham dự các cuộc họp của Trung ương Đảng, của Hội đồng Chính phủ về thủy lợi, tham dự, huấn thị tại nhiều hội nghị của ngành thủy lợi ở Trung ương và ở các địa phương, mà Người còn chú trọng việc phát động phong trào toàn dân làm thủy lợi, thường xuyên khuyến khích phong trào đắp đê, xây kè, chống hạn, v.v...và thường dành thời gian đi kiểm tra, đôn đốc việc xây dựng, sửa chữa các công trình thủy nông, đê điều, tham gia tát nước chống hạn, chống úng với bà con nông dân và cán bộ các địa phương.

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, ngày 22/5/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 70/SL thành lập tại Bắc Bộ “Ủy ban Trung ương hộ đê có nhiệm vụ nghiên cứu, đề nghị mọi kế hoạch chống nạn lụt và kiểm soát việc bảo vệ đê điều”, đồng thời giao cho Chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc Bộ đứng đầu và tổ chức, thể hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước đối với một trong những lĩnh vực quan trọng hàng đầu liên quan đến thủy lợi và trị thủy của một quốc gia nông nghiệp. Ngày 16/7/1953, báo Nhân dân đăng bài “Ra sức giữ đê phòng lụt” của Bác: “Giặc Lụt là tiên phong của giặc ĐÓI, nó là đồng minh của giặc NGOẠI XÂM. Nó mong làm cho dân ta đói kém, để giảm bớt sức kháng chiến của chúng ta. Đắp đê, hộ đê để bảo vệ mùa màng...Mấy năm trước, chúng ta đã thắng giặc lụt. Năm nay chúng ta cũng quyết thắng giặc lụt. Tôi kêu gọi đồng bào và bộ đội ra sức giữ vững đê điều”. Đồng thời, để giúp người dân ở vùng bị thiên tai có thể sớm ổn định đời sống, sản xuất, ngày 14/6/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 96/SL, sửa đổi bản “Điều lệ tạm thời thuế nông nghiệp”, trong đó quy định các vùng bị thiên tai sẽ được giảm hoặc miễn thuế. Quan tâm đến tình hình thiên tai trên cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời thăm hỏi, động viên cán bộ và nhân dân ở những vùng bị thiệt hại nặng do bão lũ, do hạn hán. Tình cảm, tấm lòng của Người hiện rõ trong từng lời động viên, từng dòng chữ trên những trang thư. Nhớ những năm nước nhà còn tạm thời bị chia cắt, dù xa xôi cách trở, đồng bào miền Nam cũng nhận được từ người Cha già tình cảm sẻ chia sâu sắc: “Mấy tỉnh miền Nam bị bão lũ dồn dập. Hàng nghìn đồng bào bị hy sinh. Hàng vạn nhà cửa bị đổ nát. Làng mạc xơ xác, vườn ruộng tơi bời. Máu chảy ruột mềm, được tin tức đó, tôi và toàn thể đồng bào miền Bắc rất là đau xót như xát muối vào lòng” trong bức thư “Thân ái gửi đồng bào các tỉnh bị bão lụt ở miền Nam (17/11/1964)”.

Thấu hiểu sâu sắc rằng, hệ thống đê điều được chuẩn bị tốt sẽ tránh được ngập úng và lũ lụt, Người không quên nhấn mạnh: “Trong mùa mưa, công việc giữ đê, phòng lụt, chống lụt, phòng bão, chống bão là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng” “chống lụt, chống hạn cũng đều là đánh giặc, cũng khó khăn, gian khổ”. Người luôn nhắc nhở các cấp chính quyền, địa phương và đồng bào chú trọng phòng chống thiên tai, không chỉ nói: “Việc hộ đê chống bão rất quan trọng. Thà đắp đê cao một tý, chuẩn bị nhà cửa trước, nếu không có lụt bão cũng không sao, nếu chủ quan không chuẩn bị thì thiệt hại lớn. Đắp đê chống lụt bão phải kịp thời” (13/6/1957); “Đồng bào và cán bộ nông thôn thì cố gắng chăm lo để giành lấy vụ mùa thắng lợi, ra sức giữ đê, chống lụt, chống bão” (6/7/1957); “Ra sức chống thiên tai như hạn hán, sâu, chuột” (26/10/1958); “Phải sẵn sàng phòng chống bão lụt” (28/7/1965), v.v...Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất cụ thể, chi tiết về những biện pháp, những kinh nghiệm trong công tác phòng chống thiên tai. Cũng theo quan điểm của Người, muốn chống thiên tai hiệu quả, trước hết phải cảnh giác, tập trung chuẩn bị trước để phòng chống thiên tai, phải chú ý đến công tác dự báo, đề phòng, chuẩn bị, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “nước đến chân mới nhảy”. Do đó, muốn chống thiên tai có hiệu quả, các cấp chính quyền phải có kế hoạch cụ thể,khoa học, phải có sự phân công rõ ràng, kiểm tra, đôn đốc chu đáo: “trong việc đắp đê giữ đê, kế hoạch phải rất tỉ mỉ, phân công phải rất rành mạch, chuẩn bị phải rất chu đáo, lãnh đạo phải rất thống nhất. Cán bộ quân, dân, chính, đảng, những vùng ấy phải xem việc đắp đê giữ đê là việc chính. Phối hợp phải chặt chẽ. Chỉ đạo phải thật thiết thực. Tổ chức phải thật đầy đủ. Tuyệt đối chống cách khoán trắng, chống quan liêu, mệnh lệnh”. Theo Người, một phương án phòng chống thiên tai tốt không chỉ là sản phẩm trí tuệ của người cán bộ chuyên trách, đó còn là sự vận dụng kinh nghiệm thực tiễn, nên nó sẽ hoàn chỉnh hơn, hiệu quả hơn khi tranh thủ được ý kiến của nhân dân, được bàn bạc kỹ với nhân dân trước khi thực hiện, vì thế “cán bộ các cấp phải nhận rõ trách nhiệm, phải có kế hoạch thiết thực và đầy đủ, phải đi sát với nhân dân”, đồng thời “cán bộ phải đi xuống cơ sở cùng với đồng bào bàn kế hoạch và thực hiện kế hoạch phòng và chống lụt, bão cho tốt”.

Phòng chống thiên tai cần sự góp sức của toàn dân, sự quan tâm của toàn xã hội, vì vậy, một trong những nhân tố quan trọng, đó là tinh thần đoàn kết, hiệp đồng giữa các lực lượng, để “nhất trí, quyết tâm vượt mọi khó khăn, giúp đỡ nhau chiến thắng thiên tai”. Và trong cuộc chiến đầy cam go giữa một bên là sức người, một bên là sự khắc nghiệt, tàn phá của thiên nhiên, không chỉ phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ đảng viên “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”, không chỉ huy động lực lượng tại chỗ, mà còn phải phát huy sức mạnh tinh thần đoàn kết giữa nhân dân các tỉnh lân cận, nhất là “cán bộ và đồng bào các tỉnh gần nhau phải phối hợp chặt chẽ, tích cực giúp đỡ nhau phòng và chống lụt, bão”. “Các địa phương có đê cần tổ chức thực tập chống lụt. ở các điếm canh đê, ngày đêm phải có người canh gác và khi có báo động phải loan báo ngay cho mọi người biết để sẵn sàng đối phó”,v.v...

Phòng chống thiên tai là trách nhiệm của cả cộng đồng, song trong đó, Nhà nước có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng kế hoạch, đầu tư cho các công trình thủy lợi, nhất là tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng thế giới, vì thế, khi “các nước bạn sẽ giúp ta kinh nghiệm chống lụt”, và “chúng ta kịp thời chuẩn bị đầy đủ sẵn sàng, thì dù bão lụt to mấy cũng không sợ”.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phòng chống lụt, bão, nhân dân cả nước hướng về miền Trung với tinh thần: “Thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” sẻ chia tình cảm và vật chất động viên, góp sức để người dân vùng bão lũ sớm ổn định tinh thần và cuộc sống.

Tập thể cán bộ, công chức, viên chức Trường Chính trị tỉnh Hà Nam luôn chung tay cùng cả nước đóng góp ngày lương lao động, góp phần nhỏ bé động viên nhân dân các tỉnh chịu thiệt hại do bão lũ gây ra bằng cả tấm lòng yêu thương và đồng cảm.