DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

                                                                                                                                             Th.s Trần Văn Bản

Phó Hiệu trưởng Trường Chính trị tỉnh Hà Nam

Như chúng ta đều biết, hệ thống chính trị cơ sở nói chung và của tỉnh Hà Nam nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng, là một bộ phận không thể tách rời của hệ thống chính trị cả nước, là nơi thể hiện một cách trực tiếp vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước cũng như phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong các hoạt động kinh tế – xã hội ở cơ sở.

Trong mỗi giai đoạn phát triển, hệ thống chính trị ở cơ sở đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và tiến hành công cuộc đổi mới. Vì vậy, Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, chính quyền trong tỉnh luôn quan tâm chăm lo xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh. Việc ra đời các Nghị quyết của Đảng, như Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX, NQTW4, TW6 khóa X, Luật cán bộ công chức (CBCC) năm 2008, các nghị định 114, 121 năm 2003, NĐ 92 năm 2009, NĐ 112 năm 2011 của Chính phủ về hệ thống chính trị cơ sở và cán bộ công chức cấp xã đã chứng minh điều đó.

Đánh giá về những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động của đội ngũ CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở, tôi xin trao đổi tại hội thảo một số điểm nổi bật sau đây:

1.  Về những ưu điểm chủ yếu

- Về phẩm chất: Nhìn chung các đồng chí cán bộ chủ chốt nói riêng và CBCC nói chung trong hệ thống chính trị cơ sở của tỉnh đều có lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu con đường XHCN, trung thành với lý tưởng cộng sản và những mục tiêu cơ bản của sự nghiệp cách mạng, tin tưởng vào khả năng lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ đổi mới và quyết tâm vượt qua những khó khăn, thử thách phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho. Đại đa số cán bộ, công chức cơ sở giữ gìn được phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người cán bộ đảng viên, lối sống lành mạnh, giản dị phù hợp với những giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, sống gần gũi nhân dân, là tấm gương về đạo đức và lối sống được cán bộ, đảng viên và nhân dân tin yêu.

- Về số lượng, cơ cấu: đội ngũ CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Hà Nam hiện nay cơ bản được kiện toàn, hoạt động mang tính ổn định. Cơ cấu cũng ngày càng đồng bộ hơn, gồm nhiều thế hệ, được phân bố hợp lý trong các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể.

- Trình độ về mọi mặt ngày càng được nâng cao: Tỷ lệ cán bộ có trình độ chuyên môn bậc đại học, cao đẳng ngày càng nhiều; tỷ lệ cán bộ có trình độ trung cấp LLCT – HC, cử nhân, cao cấp ngày càng tăng. Hầu hết các đồng chí đã được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xây dựng đảng, đoàn thể, công tác vận động quần chúng ở cơ sở hoặc các lớp bồi dưỡng kiến thức QLNN, quốc phòng - an ninh. Một số đồng chí đã cố gắng tranh thủ thời gian học tập để có chứng chỉ ngoại ngữ và học tin học để sử dụng được máy vi tính trong hoạt động chuyên môn.  

- Về năng lực hoạt động thực tiễn: đội ngũ CBCC cơ sở chủ yếu là những người trưởng thành trong phong trào của quần chúng cơ sở, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý. Đa số các đồng chí đã và đang đảm nhiệm các chức vụ trưởng, phó các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể cơ sở. Chính điều đó đã làm cho hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở đảm bảo thông suốt, hiệu quả, nhất là trong việc tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác xây dựng Đảng và vận động quần chúng ở cơ sở.

2. Về một số hạn chế, khuyết điểm

Hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, cụ thể là của đội ngũ CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở tuy đã có nhiều đổi mới, sáng tạo, chất lượng hoạt động cao hơn so với những năm đầu tái lập tỉnh, nhưng trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH, đổi mới đất nước, hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm chủ yếu sau:

- Về phẩm chất:  

Một số đồng chí cán bộ chủ chốt ở cơ sở còn có biểu hiện tư tưởng cục bộ địa phương, gia trưởng bảo thủ, trì trệ, trông chờ ỷ lại vào cấp trên, thiếu chủ động sáng tạo trong công việc, ngại khó khăn, muốn ổn định công tác không muốn chuyển công tác sang những lĩnh vực mới, việc mới.  Một số đồng chí chưa chú trọng thực hiện tốt những nguyên tắc trong tổ chức sinh hoạt Đảng, quy chế dân chủ ở cơ sở. Thái độ tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa quyết tâm đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong hàng ngũ; bản thân và gia đình chưa gương mẫu chấp hành pháp luật.

Một số ít đồng chí cán bộ chủ chốt ở cơ sở gây mất đoàn kết nội bộ, có biểu hiện lợi dụng những sơ hở trong cơ chế quản lý để vun vén cá nhân, tham nhũng, tiêu cực nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai ở cơ sở, làm xói mòn lòng tin của nhân dân. Một số cán bộ có thái độ thờ ơ đối với những tiêu cực xảy ra, vô cảm với những vấn đề mà người dân đang bức xúc, kiến nghị đề xuất; có khi vì lợi ích cá nhân và gia đình, dòng họ, bạn bè, người thân mà đi đến buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm trong giải quyết các vụ việc, thậm trí vi phạm nguyên tắc, kỷ luật.  

- Về trình độ kiến thức:

Nhìn chung mặt bằng về trình độ học vấn chuyên môn cũng như LLCT-HC, kiến thức QLNN của đội ngũ CBCC cơ sở hiện nay cao hơn nhiều so với trước đây. Song số người được đào tạo tập trung chính quy dài hạn không nhiều, số cán bộ có bằng cử nhân còn ít, còn có sự mất cân đối giữa các lĩnh vực chuyên môn được đào tạo, nhiều đồng chí phải đảm nhận những nhiệm vụ chưa phù hợp với chuyên ngành đã học. Trình độ kiến thức thực tế của một số cán bộ chưa tương xứng với bằng cấp được đào tạo; việc học tập, cập nhật kiến thức mới chưa thuờng xuyên; kiến thức về lãnh đạo, quản lý trong nền kinh tế thị trường còn ít, kiến thức về hội nhập kinh tế quốc tế, về trình độ ngoại ngữ còn rất hạn chế.

Một số cán bộ lãnh đạo chưa có kiến thức cơ bản chuyên sâu, toàn diện trong lĩnh vực được giao phụ trách (nhất là kiến thức tin học), chưa thường xuyên sâu sát cơ sở, ít quan tâm nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, yếu kém trong lãnh đạo điều hành công việc nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế và giải quyết các vấn đề bức xúc trong nhân dân.   

3. Từ những vấn đề nêu trên, tôi xin đưa ra một số gii pháp nâng cao cht lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ công chức trong hệ thống chính trị cơ sở giai đoạn hiện nay

3.1- Tp trung đẩy mnh công tác giáo dc chính tr, tư tưởng

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng quyết định thành hay bại trong mọi việc của Đảng và Nhà nước, còn liên quan đến vấn đề sống còn của chế độ. Vì vậy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần được quan tâm hàng đầu.

Trong nhân dân ta có câu: “Tư tưởng không thông vác bình tông không nổi”, đấy là để chỉ tầm quan trọng của công tác tư tưởng. Khi mọi người chưa hiểu rõ mục đích, chưa hiểu rõ việc làm của Đảng, Nhà nước thì không phải ai cũng đồng thuận thực hiện, hoặc có làm thì cũng chỉ gượng ép, không tự nguyện vì vậy mà việc không chạy, chủ trương, chính sách không được ủng hộ. Trong mọi lúc, mọi nơi, mọi việc, tư tưởng có thông suốt thì hành động mới thuận lợi, suôn sẻ.

Để thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đòi hỏi trước hết cấp ủy cơ sở phải tập trung quán triệt trong đội ngũ cán bộ chủ chốt để cho đội ngũ cán bộ quản lý phải thật sự thấm nhuần chủ trương đường lối của Đảng, biến chủ trương của trên thành ý chí quyết tâm của từng cán bộ.

CBCC, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cơ sở là từng hạt nhân để tuyên truyền, vận động biến chủ trương của Đảng, chính sách,pháp luật của Nhà nước thành ý thức của toàn thể cán bộ, đảng viên.

Cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở phải vào cuộc với nhiệt huyết, trách nhiệm vì việc chung. Phương pháp quán triệt phải linh hoạt, sáng tạo, giàu tính thuyết phục, nhất là đối với những việc khó, việc mới phức tạp, nhạy cảm cần kiên trì, “mưa dầm thấm lâu”.

3.2. Thc hin nghiêm túc vic đánh giá CBCC, đảng viên trong hệ thống chính trị cơ sở

Công tác đánh giá CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở là một vấn đề hệ trọng, rất nhạy cảm và phức tạp trong công tác cán bộ. Đây là khâu mở đầu có ý nghĩa quyết định trong công tác cán bộ, là cơ sở để tiến hành việc bố trí, sử dụng và thực hiện các chính sách cán bộ, thực hiện việc bổ nhiệm, và miễn nhiệm.

Đánh giá đúng cán bộ sẽ phát huy được tiềm năng của từng người và của cả đội ngũ cán bộ. Đánh giá không đúng bản chất của cán bộ sẽ dẫn đến việc bố trí, sử dụng sai cán bộ, sẽ hỏng người, hỏng việc, mà quan trọng hơn là làm mai một dần động lực phát triển, có khi thui chột những tài năng, làm cho chân lý bị lu mờ, vàng thau lẫn lộn, xói mòn niềm tin của đảng viên, quần chúng đối với lãnh đạo, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị.

Để đánh giá cán bộ được chính xác mỗi cán bộ, đảng viên, mà trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu phải thực hiện tự kiểm điểm bản thân, liên hệ theo chức trách nhiệm vụ được giao, căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn chức danh, chú trọng hiệu quả hoạt động thực tiễn, xem xét trong cả một quá trình. Tổ chức cho mọi người tham gia góp ý thắng thắn, dân chủ, công khai, nghiêm túc, chân thành và lấy phiếu tín nhiệm.  

3.3. Tăng cường giám sát ca các b phn chc năng

Mỗi một CBCC, đảng viên trong bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở đều được phân công một nhiệm vụ chính trị nhất định. Để nhiệm vụ này được thực thi đúng pháp luật, đúng tiến độ, hiệu quả cao, nhất thiết phải được giám sát thường xuyên của các bộ phận chức năng như thanh tra, kiểm tra.

Đối với công tác lãnh đạo của cấp ủy đảng thì các mảng công việc của từng đảng viên đều được cấp ủy phân công nhiệm vụ giám sát theo quy định. Nếu công tác tham mưu của từng bộ phận và công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của cấp trên tốt thì hoạt động của đội ngũ CBCC, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cơ sở thường xuyên được điều chỉnh và ít bị sai phạm.

3.4. Đẩy mnh vic vic hc tp và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách H Chí Minh theo tinh thn Ch th số 05-CT/TW, ngày 14/5/2016 ca B Chính tr

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tập đức tính “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, là chuẩn mực đạo đức truyền thống trong quan hệ “đối với mình”, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa, vận dụng và phát triển phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp cách mạng, trở thành chuẩn mực cơ bản của đạo đức cách mạng. Người là một tấm gương mẫu mực về “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. CBCC trong hệ thống chính trị cơ sở học tập tấm gương đạo đức của Người trong giai đoạn hiện nay là tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần lao động sáng tạo, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể, của nhân dân; không xa hoa, lãng phí, không phô trương, hình thức; biết sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn của Nhà nước, của tập thể, của chính mình một cách có hiệu quả; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng.

Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý và mỗi đảng viên phải loại bỏ thói chạy theo danh vọng, địa vị, giành giật lợi ích cho mình, lạm dụng quyền hạn, chức vụ để chiếm đoạt của công, thu vén cho gia đình, cá nhân, cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Phải thẳng thắn, trung thực, bảo vệ chân lý, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ người tốt; chân thành, khiêm tốn; không chạy theo chủ nghĩa thành tích, không bao che, giấu giếm khuyết điểm.

Học tập phong cách Hồ Chí Minh, cụ thể là phong cách quần chúng, phong cách dân chủ và phong cách nêu gương. Phong cách quần chúng trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện bằng phong cách sâu sát quần chúng, vì lợi ích của quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng, lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của quần chúng.

Phong cách dân chủ là yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể, phát huy sức mạnh của tập thể, nhận trách nhiệm cá nhân và hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

Phong cách nêu gương tức là phải làm gương trong mọi công việc từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên, về mọi mặt, nói phải đi đôi với làm. Trước hết, cần nêu gương trên ba mối quan hệ đối với mình, đối với người và đối với công việc. Đối với mình phải không tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo mà luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình mình như rửa mặt hàng ngày; đối với người, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, phải khoan dung, độ lượng; đối với công việc, dù trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ nguyên tắc để việc công lên trên, lên trước việc tư.

3.5. Thc hin thường xuyên t phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI: “Một số vấn đề cấp bách vễ xây dựng Đảng hiện nay” và Nghị quyết Trung ương 4, khoá XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng

Thực tế hiện nay, một số tổ chức và cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị cơ sở đã làm tốt công tác tự phê bình và phê bình, trong các cuộc họp, nhất là ở chi bộ thôn, xóm, họ đã dám nói thẳng, nói thật ưu, khuyết điểm giúp đồng chí mình phát huy, sửa chữa. Song bên cạnh đó, vẫn còn một số cán bộ chưa phát huy tốt tinh thần phê và tự phê. Trong các cuộc hội nghị, cán bộ, đảng viên không dám góp ý kiến, đặc biệt là góp ý cho cấp trên, cho lãnh đạo vì sợ bị trù dập. Một số cán bộ không góp ý cho đồng chí mình ngay trong cuộc họp mà lại đi nói sau lưng có tính chất “kích động”, làm mất uy tín người khác.

Bên cạnh đó vẫn còn một số cán bộ, đảng viên lợi dụng tinh thần phê và tự phê để chỉ trích, phê phán người khác với thái độ không thiện cảm, vì mục đích cá nhân “vạch lá tìm sâu”, “chuyện bé xé ra to”, làm cho người bị phê bình không nhận ra được sai lầm để sửa chữa hoặc có nhận ra họ cũng khó lòng mà sửa được. Tự phê bình và phê bình phải đạt tới cái đích là làm rõ đúng, sai, bảo đảm tính khách quan, trung thực, thẳng thắn và chân tình. Tự phê bình và phê bình giúp ta sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, tiến bộ không ngừng, trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng.

Trước khi phê bình người khác phải tự phê bình chính mình trước, đó là tư tưởng được phổ biến từ thời Nho giáo “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tự phê bình và rèn luyện bản thân là việc đầu tiên phải làm của người cán bộ. Tự phê bình thực chất là quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng để không ngừng hoàn thiện nhân cách, nâng cao ý thức và phẩm chất đạo đức. Quá trình tự phê bình và phê bình phải luôn gắn với việc tự sửa chữa khuyết điểm của mình, thực hiện như thói quen hàng ngày.

Người cán bộ phải thật thận trọng, phải giữ gìn trước những cám dỗ của quyền lực, tiền bạc, trước những thói hư tật xấu của đời thường và cũng phải luôn tâm niệm rằng người cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý đều là một viên chức bình thường, được mọi người tín nhiệm giao gánh vác công việc chung nên việc gì có lợi cho tập thể phải cố gắng làm, việc gì có hại phải hết sức tránh. Tự phê bình và phê bình phải được tiến hành thường xuyên, phê bình từ trên xuống và từ dưới lên. Khi tiến hành tự phê bình và phê bình phải đảm bảo đúng nguyên tắc, song cách thức tiến hành phải mềm dẻo, khéo léo. Nếu chỉ dùng phương pháp cứng rắn, mệnh lệnh, ép buộc thì rất khó tiếp thu. Phê bình không đúng lúc, đúng chỗ, không khôn khéo sẽ có tác dụng ngược lại thậm chí còn gây ra hậu quả khó lường. Người được phê bình phải có thái độ thành khẩn, vui lòng để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí hoặc oán ghét.

3.6. Thc hin đúng kế hoch đào to, bi dưỡng cán b sau quy hoch

Mỗi một nhiệm kỳ, cũng như cấp ủy cấp trên, cấp uỷ cơ sở phải thực hiện quy hoạch danh sách cán bộ nguồn; kèm theo quy hoạch là kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong diện quy hoạch. Đào tạo, bồi dưỡng ở đây là bồi dưỡng thêm những kiến thức còn thiếu so với tiêu chuẩn chức danh theo quy định. Trước hết là bồi dưỡng về lý luận chính trị, đối với cán bộ quy hoạch chức danh lãnh đạo thì phải bồi dưỡng chương trình TCLLCT-HC . Tiếp theo là đào tạo bồi dưỡng thêm về chuyên môn mà cụ thể là học cao đẳng, đại học...; chương trình này chủ yếu là vừa làm vừa học. Một nội dung nữa cần bồi dưỡng, đó là kiến thức về ngoại ngữ và tin học; nội dung này buộc từng cá nhân phải tự học, tự trau dồi để biến thành kỹ năng nhằm phục vụ công việc chuyên môn.

3.7. Thường xuyên quan tâm giúp đỡ, mnh dn ct nhc và bo v cán b

Cấp uỷ, nhất là người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên quan tâm giúp đỡ cán bộ giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống, trong công tác. Hễ thấy khuyết điểm thì giúp đỡ họ sửa chữa ngay, đồng thời phải chỉ rõ những ưu điểm, những thành công của họ để động viên họ an tâm làm việc. Trong công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, chúng ta thường “thận trọng” hoặc “quá khắt khe”, vì vậy phải mạnh dạn cất nhắc, đề bạt những cán bộ trẻ có đủ tiêu chuẩn và có triển vọng vào các cương vị chủ chốt quản lý.

Mạnh dạn cất nhắc cán bộ nghĩa là người cán bộ được cất nhắc có thể còn điểm yếu, song phải biết được khuyết điểm của họ để sau khi cất nhắc tiếp tục giúp đỡ họ tiến bộ. Mạnh dạn không có nghĩa là làm nóng vội, làm ẩu, làm liều, càng không vì danh lợi của mình mà cất nhắc cán bộ; Cất nhắc cán bộ, phải vì công việc chung, vì tài năng, vì cổ động cho những đồng chí khác thêm hăng hái.

Đối với cán bộ đã có quá trình công tác, có nhiều cống hiến, có nhiều kinh nghiệm, chúng ta phải biết quý trọng, phải thường xuyên chăm lo và bảo vệ họ, kể cả khi đồng chí mình có sai phạm; khi họ sai phạm thì dùng cách thuyết phục để giúp họ sửa chữa, phải có thái độ thân thiết, giúp đỡ và động viên họ hăng hái tiến lên.

Trên đây là một số ý kiến của bản thân mang đến trao đổi cùng với các đồng chí tại buổi hội thảo ngày hôm nay. Xin chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc hội thảo thành công tốt đẹp.