DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

 ThS.Trần Văn Quảng

                                                                                                Trưởng phòng NCKH-TT-TL

Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập, lãnh đạo xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ khi ra đời đến nay, Quân đội nhân dân Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh đã không ngừng phát triển lớn mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giành và giữ độc lập, chủ quyền Tổ quốc do Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

1.     Dốc lòng thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam

Cuộc đời vì nước, vì dân, vì sự nghiệp giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh được UNESCO đánh giá: “Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”[1].

Mục tiêu hàng đầu trong chặng đường 30 năm bôn ba của Hồ Chí Minh là tìm đường cứu nước, cứu dân tộc. Đóng góp to lớn nhất trong phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào cộng sản, công nhân quốc tế của Hồ Chí Minh là vấn đề dân tộc. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc, khi phân tích về các xã hội thuộc địa ở phương Đông, Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”[2] và do vậy phải “phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản”3, để rồi “khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ Xô viết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”4.

Xác định rõ động lực của dân tộc Việt Nam, điều đầu tiên mà Người kiếm tìm đó là con đường giành tự do, độc lập cho dân tộc. Đi nhiều nơi, làm nhiều nghề, nghiên cứu nhiều cuộc cách mạng trong lịch sử thế giới và Người thấy chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga “là đã thành công và thành công đến nơi”. Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga chứng minh chủ nghĩa xã hội thay thế chủ nghĩa tư bản là một xu hướng khách quan, trong đó giai cấp công nhân đứng ở vị trí trung tâm của thời đại có đủ tài năng và lực lượng để cải tạo xã hội cũ, thay thế xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Năm 1919, Quốc tế thứ ba thành lập, đó là bộ chỉ huy cách mạng của giai cấp vô sản quốc tế. Cách mạng Việt Nam muốn thành công phải đi con đường Cách mạng Tháng Mười, “phải nhờ Đệ tam quốc tế”. Như vậy, con đường cách mạng Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản với mục tiêu cách mạng là độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Tìm được con đường cứu nước đúng đắn, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm hình thành tư tưởng dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Phân tích xã hội thuộc địa dưới quyền cai trị của bọn thực dân, Người chỉ rõ: “chế độ thực dân, tự bản thân nó, đó là hành động bạo lực của kẻ mạnh đối với kẻ yếu rồi”[3]. Do vậy “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền[4]. Để sử dụng bạo lực một cách hiệu quả, trong công cuộc giành độc lập dân tộc khi thời cơ thành công của cách mạng đang đến gần, tháng 5-1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương để bàn việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam với nhận định: “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”[5], “ta phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù”[6].

         Tháng 11 năm 1941, tại Pắc Bó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị tổ chức đội vũ trang đầu tiên ở Cao Bằng, đội gồm các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm, Bằng Giang, Lê Thiết Hùng, Đức Thanh, Thế An…do đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy. Tinh thần Hội nghị Trung ương lần thứ tám (5-1941) được thể hiện trong chỉ thị thành lập đội vũ trang  ở Cao Bằng. Đây là một lực lượng vũ trang tập trung gồm 12 cán bộ, chiến sỹ. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan lãnh đạo của Đảng, củng cố, giữ vững đường giao thông liên lạc, tuyên truyền và huấn luyện tự vệ chiến đấu. Để huấn luyện cho đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biên soạn một số tư liệu như: Chiến thuật du kích; kinh nghiệm du kích Nga; kinh nghiệm du kích Tầu; giới thiệu Phép dùng binh của ông Tôn Tử; sách dạy làm tướng của Khổng Minh. Những cuốn sách đơn giản ấy là những tài liệu quý giá, bổ ích cho các đội tự vệ và những hội viên cứu quốc các giới. Đặc biệt Người còn trực tiếp huấn luyện cho các đội tự vệ, du kích những điều lệnh thông thường, về phương thức hoạt động.

Vào nửa đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XX, trước những diễn biến mới của tình hình, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã sớm tổ chức ra quân đội. Ngày 22-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi mới thành lập, Quân đội ta “lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ” nhưng Hồ Chí Minh đã thấy trước “tiền đồ của nó rất vẻ vang”; “có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Đó là “đội quân đàn anh” và Người còn “mong cho chúng có những đội đàn em khác”[7].

Thành lập quân đội ta, Hồ Chí Minh luôn quan tâm rèn luyện để tạo sức mạnh cho quân đội trưởng thành và chiến thắng. Người lãnh đạo xây dựng một quân đội gắn bó với nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu do Đảng Cộng sản lãnh đạo, mang bản chất giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Đó là một quân đội “... trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hòan thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[8].

Quân đội nhân dân Việt Nam mang đậm tính nhân dân. Ngay khi Đảng ra đời, Hồ Chí Minh đã nêu vấn đề “Tổ chức ra quân đội công nông”[9]. Trong mười điều kỷ luật có tới 6 điều liên quan tới việc giữ gìn và bảo vệ lợi ích của nhân dân như “không được lấy cái kim sợi chỉ của dân”; “làm hư hại cái gì của dân phải bồi thường’... và “trung với nước, hiếu với dân” là bổn phận thiêng liêng, là trách nhiệm nặng nề nhưng cũng là vinh dự của người chiến sỹ trong quân đội quốc gia đầu tiên của nước ta.

2. Quân đội nhân dân Việt Nam dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam ngay từ khi mới ra đời đã phát huy tài thao lược của ông cha và học tập kinh nghiệm của các nước trên tinh thần hết sức tranh thủ giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoà bình, chỉ chấp nhận chiến tranh khi không thể tránh khỏi và ở thế chủ động chiến lược như thời Lý, thời Trần. Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam luôn phải chống lại kẻ thù mạnh hơn gấp bội nên chúng ta đánh giặc với sức mạnh toàn dân, toàn diện, dám lấy nhỏ đánh lớn, lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, vừa dũng cảm vừa mưu trí, sáng tạo. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sau khi tranh thủ mọi điều kiện, khả năng giải quyết hoà bình cuộc chiến tranh Việt Nam không thành công, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyết tâm của cả dân tộc: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc”[10].

Hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược là những cuộc chiến tranh yêu nước, dân tộc và nhân dân, tiêu biểu của sức mạnh trí tuệ và văn hoá Việt Nam, trường tồn những chân lý: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh; thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ; không có gì quý hơn độc lập, tự do...

Coi trọng nghiên cứu lý luận nhưng Hồ Chí Minh rất quan tâm vận dụng lý luận vào thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để áp dụng lý luận sao cho không máy móc, giáo điều. Từ thực tiễn của đất nước và của nhân loại tiến bộ, người đã tìm ra con đường cứu nước, cứu dân tộc đúng đắn với những chủ trương, chính sách cụ thể, phù hợp với thực tiễn XHCN Việt Nam và xu thế thời đại. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp được kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ do tình hình và nhận biết về kẻ thù thay đổi nên đã chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với gần 20 năm kinh nghiệm đánh thắng 4 chiến lược chiến tranh đã đưa tới quyết sách giải phóng miền Nam trong 2 năm, sau rút xuống còn trong năm 1975 và cuối cùng là trước mùa mưa bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975.

Nguyên nhân mọi thắng lợi của quân đội là trong quá trình xây dựng và trưởng thành, quân đội ta luôn chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng, giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Quân đội là lực lượng tin cậy của Đảng, của nhân dân để giành và giữ độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân đội giữ vững bản chất giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam, giữ vững mục tiêu vì độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH. Hồ Chí Minh coi việc đặt quân đội dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng là nguyên tắc, việc chăm lo giáo dục đảng viên, cán bộ về phẩm chất cách mạng để phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên là nhân tố quyết định chiến thắng kẻ thù.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn 70 năm qua, Quân đội nhân dân Việt Nam - Bộ đội Cụ Hồ đã nhanh chóng trưởng thành, phát triển vượt bậc, cùng với toàn dân đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, làm nghĩa vụ quốc tế thành công, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, nghị quyết Đại hội XI  của Đảng đã xác định phương hướng: “Xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân và  Công an nhân dân vững mạnh toàn diện, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.”[11]

Thực hiện phương hướng của Đại hội XI về xây dựng Quân đội, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá; mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, Quân đội nhân dân Việt Nam phải từng bước tiến lên chính quy và hiện đại theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Quân đội ta nhất định phải tiến lên chính quy, vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm xây dựng chính quy, hiện đại của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa”.

Tình hình quốc tế, khu vực đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp. Cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra trong điều kiện mới với những đặc điểm, nội dung, hình thức và tính chất mới. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục đạt được những thành tựu mới. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiếp tục ráo riết tăng cường “diễn biến hoà bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ và can thiệp vũ trang để xoá bỏ những thành tựu chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam đang xây dựng, Biển Đông đang “dậy sóng”… Trong bối cảnh mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen đòi hỏi Quân đội nhân dân Việt Nam phải mài sắc ý chí, bản lĩnh, sức mạnh của Quân đội Cụ Hồ, thực hiện điều mong muốn của Người trước lúc đi xa là: “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phân đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[12].

 



[1] Xem Nguyễn Dy Niên: Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

[2], 3, 4 Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr.466, 467.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.1, tr.96.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.304.

[5] Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.129, 131.

[6]Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.131.

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.3, tr.508.

[8] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.11, tr.350.

[9] Sđd, t.3, tr.1.

[10] Sđd, t.4, tr.480.

[11] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,I Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.138.

[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.12, tr.512.