DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

TỔ CHỨC HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

THEO LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2015

                                                                                                                                        Ths. Nguyễn Thị Vân Giang

                                         Trưởng khoa Nhà nước - Pháp luật

Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương là một trong những vấn đề nhận được sự quan tâm và thảo luận nhiều nhất của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức, các nhà khoa học và các tầng lớp nhân dân trong quá trình xây dựng Luật tổ chức chính quyền địa phương. Các ý kiến thảo luận tập trung nhiều vào việc có hay không tổ chức Hội đồng nhân dân ở một số đơn vị hành chính; cần tổ chức hợp lý, hiệu quả chính quyền địa phương, tăng cường năng lực hoạt động của các cấp chính quyền địa phương; phân biệt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương ở từng loại đơn vị hành chính cho phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý khác nhau giữa đô thị, nông thôn, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp 2013, trên cơ sở tiếp thu quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, lần thứ 11 (tất cả các đơn vị hành chính đều tổ chức cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân); ngày 20/6/2015 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tổ chức chính quyền địa phương với gần 90% đại biểu tán thành. Luật gồm 8 chương với 143 điều. Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, tổ chức Hội đồng nhân dân có một số điểm lưu ý sau:

Thứ nhất: Tổ chức Hội đồng nhân dân ở các đơn vị hành chính.

Theo quy định của Luật, các đơn vị hành chính gồm có:

- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương;

- Xã, phường, thị trấn;

- Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính.

Như vậy, Hội đồng nhân dân được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính gồm: Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương; Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn; và Hội đồng nhân dân ở đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Việc thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấm dứt kể từ ngày Luật tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực. Ủy ban nhân dân huyện, quận, phường nơi không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường tiếp tục giữ nguyên cơ cấu tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 2003, Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội và Nghị quyết số 725/2009/UBTVQH12 của Ủy ban thường vụ Quốc hội cho đến khi bầu ra chính quyền địa phương ở huyện, quận, phường theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương.

Thứ hai: Phân biệt tổ chức Hội đồng nhân dân ở các đơn vị hành chính.

Đối với đơn vị hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân.

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân và Chánh Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Hội đồng nhân dân tỉnh thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa - xã hội; nơi nào có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc. Hội đồng nhân dân thành phố trực thuộc trung ương thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - ngân sách, Ban văn hóa - xã hội và Ban đô thị. Các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gồm có Trưởng ban, không quá hai Phó Trưởng ban và các Ủy viên.

Đối với đơn vị hành chính quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Hội đồng nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương gồm Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban Hội đồng nhân dân.

Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, hai Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân và các Ủy viên là Trưởng ban của Hội đồng nhân dân quận.

Hội đồng nhân dân quận, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thành lập Ban pháp chế và Ban kinh tế - xã hội. Hội đồng nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thành lập Ban pháp chế và Ban kinh tế - xã hội. Ở huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số thì thành lập Ban dân tộc. Các Ban của Hội đồng nhân dân gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên.

Đối với đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn gồm Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban Hội đồng nhân dân.

Thường trực Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn gồm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, một Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân.

Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập Ban pháp chế, Ban kinh tế - xã hội. Ban của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn gồm có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên.

Thứ ba: Quy định đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách

Đối với cấp tỉnh, cấp huyện: Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách; Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Trưởng các Ban của Hội đồng nhân dân là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách.

Đối với cấp xã: Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và Ủy viên các Ban của Hội đồng nhân dân cấp xã hoạt động kiêm nhiệm.

Luật tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 thay thế Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11. Để nhiệm kỳ 2016-2021 sắp tới, Hội đồng nhân dân hoạt động có hiệu lực, hiệu quả thì các điều kiện cơ sở vật chất, biên chế, kinh phí hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp  phải được chuẩn bị ngay từ năm 2015.