DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

Giảng viên Nguyễn Thị Thanh Tuyền

                                                                                                            Khoa  Xây dựng Đảng

Bài “Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về dân tộc, tôn giáo” thuộc bộ môn:“Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về các lĩnh vực của đời sống xã hội ”do khoa Xây dựng Đảng đảm nhiệm. Bài bao gồm hai nội dung lớn: một là, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về dân tộc; hai là, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo. Ở nội dung lớn thứ hai có đề cập đến ba cơ sở lý luận để Đảng và Nhà nước Việt Nam đề ra những quan điểm, chính sách về tôn giáo đó là: quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo và cơ sở lý luận, quan trọng nữa đó là dựa vào những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo và giải quyết vấn đề tôn giáo. Theo tôi, để có thể giảng dạy và nghiên cứu, vận dụng tốt những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo, tôi xin nêu một số ý kiến trao đổi để làm rõ hơn những nội dung trên :

Thứ nhất, khi giảng dạy và nghiên cứu, trước tiên chúng ta cần phải khẳng định: những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về tôn giáo trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Không phải là nhà tôn giáo học song tư tưởng của Người về tôn giáo là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong hệ thống quan điểm của Người.

Thứ hai, chúng ta cần chỉ ra những quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo bao gồm nội dung cơ bản sau:

- Một là, quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo nằm trong chiến lược “đại đoàn kết dân tộc” của Người. Đoàn kết dân tộc theo tư tưởng của Người là đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “đồng bào lương giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là yếu tố quan trọng dẫn tới sự thành công của cách mạng Việt Nam”(1). Với mọi tôn giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự tôn trọng và thực hiện bình đẳng tôn giáo. Người khẳng định: “năm ngón tay có ngón ngón ngắn, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác nhưng thế này thế khác đều thuộc dòng dõi tổ tiên ta… Ta phải nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”(2). Luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo phù hợp với tình hình thực tiễn.

 - Hai là, những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo. Người xem tự do tín ngưỡng tôn giáo như một trong những quyền tự do của con người, chính sách về tôn giáo như một trong những chính sách cấp bách của nhà nước. Cho nên, ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 234/SL về chính sách tôn giáo gồm 5 chương,16 điều. Có thể nói đây là văn bản pháp luật tiêu biểu nhất, hoàn chỉnh nhất, ghi nhận những cống hiến quan trọng của Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo. Lần đầu tiên, ở Việt Nam có một văn bản riêng về chính sách tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo tiếp tục được khẳng định và làm rõ hơn.

 - Ba là, về vấn đề chống lợi dụng tôn giáo, bài trừ mê tín dị đoan, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có những quan điểm, tư tưởng về vấn đề này. Người đã chỉ ra: điểm khác biệt của tôn giáo Châu Âu và Châu Á: “Người Châu Á, việc cúng bái tổ tiên hoàn toàn là hiện tượng xã hội(3) hay“Người An Nam dễ mê tín, ở nông thôn, nhiều nơi quên sản xuất, cứ trống mõ bì bõm, ca hát lu bù, có những xã góp đến mấy triệu đồng đi mua áo, mua mũ, mua hia...” (4). Chính vì thế, phải khuyến khích dân học hành, nâng cao dân trí, để bài trừ mê tín dị đoan.

    - Bốn là, Hồ Chí Minh còn có những quan điểm mới về mối quan hệ giữa tôn giáo với vấn đề độc lập dân tộc. Đối với Người vấn đề dân tộc được đặt lên hàng ưu tiên: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do, nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã. Và nước có độc lập thì đạo Phật  mới dễ được mở mang”(5). 

- Năm là, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những quan điểm về những giá trị tích cực của tôn giáo. Hồ Chí Minh đã tiếp cận tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần của nhân dân mà Người còn khai thác tôn giáo với tính cách là những giá trị đạo đức, di sản văn hóa của nhân loại. Người đấu tranh quyết liệt với những kẻ lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng nhưng Người cũng nhìn thấy ở tôn giáo những giá trị tốt đẹp phù hợp với đạo đức mới và phục vụ cho sự phát triển xã hội. Người viết: “Mục đích cao cả của Phật Thích ca và Chúa Giê su đều giống nhau, Thích ca và Giê su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”(6). Người nói:“Chúa Giê su dạy đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: đạo đức là bác ái”(7). Và Người khẳng định:“Tôi muốn làm học trò của các vị ấy”(8).

Thiết nghĩ, người giảng viên cần truyền tải tới học viên những kiến thức cơ bản trên, cùng với các quan điểm chỉ đạo của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, để người học có thể nắm bắt và triển khai thực hiện có hiệu quả ở cơ sở, góp phần củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc.

-----------------------------------

Chú thích:

(1): Trích Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. CTQG, H, 2000, t.4.

(2): Trích Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Sđd, tr.246.

(3): Trích Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, tr.479.

(4): Nói ngày 30-10-1958. Sách Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, t.V, tr. 125-127.

(5): (HCM toàn tập, NXB CTQG, HN, 1995, t.5, tr.197) 

(6),(7),(8)(Về Tôn giáo, Nxb KHXH, Hà Nội 1994, Tập 1, Trang 6-7).