DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

Th.s: Phan Thị Thu Hà

                                                                           Khoa Xây dựng Đảng

Trong chương trình đào tạo hệ Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính, học viên được nghiên cứu học tập nhiều môn trong đó có môn học: Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Cấu trúc của môn học này được chia làm 2 phần học:

Phần thứ nhất: Lý luận về Đảng Cộng sản gồm bài 1,2,3.

Phần thứ hai: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam gồm bài 4,5,6,7,8,9.

Trong khuôn khổ của bài viết, tôi chia sẻ một vài ý kiến cá nhân được rút ra qua nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy phần 2 của môn học này.

Trước hết, khi nghiên cứu và giảng dạy phần học này, giảng viên cần phải hiểu được Lịch sử Đảng gắn liền với lịch sử dân tộc. Theo đó, lịch sử Đảng là một khoa học chuyên ngành của khoa học lịch sử và có quan hệ mật thiết với các khoa học về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Khoa học lịch sử nghiên cứu về xã hội và con người xã hội, nghiên cứu về cuộc sống đã qua của nhân loại một cách toàn diện trong sự vận động, phát triển, với những quy luật phổ biến và đặc thù của nó. Lịch sử Việt Nam từ năm 1930 là lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường và anh dũng của nhân dân ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm xóa bỏ chế độ thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và mới, xây dựng chế độ mới. Do đó, lịch sử Việt Nam (từ năm 1930 trở đi) và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau.

Đi sâu vào nghiên cứu và giảng dạy phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam giảng viên sẽ nhận thấy Đảng Cộng sản Việt Nam rất coi trọng công tác nghiên cứu lịch sử Đảng và tổng kết những bài học lịch sử trong từng thời kỳ cũng như trong toàn bộ tiến trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Việc nghiên cứu và tổng kết các bài học lịch sử của Đảng là một phương pháp tốt để nâng cao trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, góp phần khắc phục những xu hướng giáo điều và kinh nghiệm chủ nghĩa trong Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam là cả một pho lịch sử bằng vàng. Kho tàng lịch sử quý giá đó không chỉ gồm những sự kiện lịch sử oanh liệt, hào hùng của Đảng và dân tộc mà điều có ý nghĩa lớn lao là những kinh nghiệm, những bài học lịch sử, những vấn đề lý luận cách mạng Việt Nam được tổng kết từ hiện thực lịch sử với những sự kiện oanh liệt hào hùng đó. Vì vậy, học tập, nghiên cứu lịch sử Đảng là trách nhiệm và quyền lợi của mỗi chúng ta.

Song, để việc học tập và nghiên cứu giảng dạy phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam cho đúng với tính đảng, tính lịch sử trong phần học. Học viên không thấy nhàm chán, khô cứng khi kiến thức quá quen hay thiếu tính thực tiễn trong bài giảng, tôi xin chia sẻ một vài ý kiến cá nhân sau:

Thứ nhất, Giảng viên phải hiểu, nắm vững và bám sát đối tượng của môn học.

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Đảng là người đề ra đường lối cách mạng và tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối đó. Bởi vậy, khoa học lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiệm vụ tái hiện có hệ thống toàn bộ tiến trình hoạt động, lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Do đó, khoa học Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đối tượng nghiên cứu là quá trình tổ chức, hoạt động của Đảng và các phong trào cách mạng của quần chúng diễn ra dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì thế, khi giảng lịch sử Đảng, giảng viên cần trình bày rõ quá trình xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Điều này, nhằm giúp cho người học thấy rõ Đảng là lãnh tụ chính trị, là bộ tham mưu và đại diện cho lợi ích của dân tộc Việt Nam.

Đồng thời, trong sự nghiệp cách mạng của quần chúng, Đảng là người đề ra đường lối cách mạng và tổ chức lãnh đạo nhân dân thực hiện đường lối. Do đó, lịch sử phát triển của dân tộc từ khi có Đảng lãnh đạo là lịch sử của nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng thông qua các phong trào cách mạng. Vì vậy, giảng viên cần xác định rõ sự kiện lịch sử Đảng để không lẫn với sự kiện lịch sử dân tộc, lịch sử quân sự hay lịch sử một chuyên ngành khác. Phải trình bày một cách có chọn lọc các phong trào, sự kiện điển hình và làm rõ các chủ trương đúng đắn, sáng tạo của Đảng để thấy được vai trò, sức mạnh của quần chúng trong việc hiện thực hóa các chủ trương, đường lối của Đảng.

Thứ hai, Giảng viên cần nắm vững tính đảng và tính khoa học trong giảng dạy phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tính đảng trong giảng dạy lịch sử Đảng đòi hỏi phải đứng vững trên lập trường, quan điểm, lý luận và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để nhận thức đúng đắn lịch sử Đảng ta trong tiến trình ra đời, hoạt động và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Phải làm rõ quan điểm, đường lối, cương lĩnh của Đảng, nhiệm vụ chính trị của Đảng ở mỗi thời kỳ lịch sử. Tính đảng cũng thể hiện ở sự quán triệt những quan điểm, những kết luận của Đảng với những vấn đề đã diễn ra trong lịch sử, đồng thời thể hiện tính chiến đấu cao trong việc phê phán những nhận thức sai trái, những luận điệu của các thế lực thù địch hòng xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Việc nắm vững tính đảng trong giảng dạy phần Lịch sử Đảng của giảng viên sẽ giúp học viên nhận thức được trách nhiệm của bản thân trong việc bảo vệ Đảng, thực hiện tốt đường lối, nhiệm vụ chính trị của Đảng nói chung, của đảng bộ, chi bộ, cơ quan đơn vị đang công tác nói riêng.

Tính khoa học trong giảng dạy phần Lịch sử Đảng là nhận thức hiện thực lịch sử một cách khách quan, trung thực, không làm sai lệch hiện thực lịch sử, không được tô hồng cũng không được bôi đen, xuyên tạc, bóp méo lịch sử. Tính khoa học thúc đẩy tư duy sáng tạo, suy nghĩ tìm tòi để tiếp cận chân lý. Tính khoa học còn đòi hỏi rèn luyện, nâng cao tư duy lôgíc để tổng kết giá trị khoa học, những vấn đề lý luận trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ ba, Cần phải làm rõ bối cảnh lịch sử trong từng thời kỳ để học viên thấy được vai trò của bối cảnh lịch sử quyết định đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.

Một số bài của phần học Lịch sử Đảng không có đề mục cụ thể nói về hoàn cảnh lịch sử mà được trình bày lồng ghép vào trong một nội dung lớn nên khi nghiên cứu giảng dạy phần học này, giảng viên thường hay bỏ qua phần bối cảnh lịch sử hoặc nếu trình bày thì trình bày một cách đại khái. Cả hai cách giảng đó cho thấy giảng viên chưa nhận thức đúng vài trò và tầm quan trọng của bối cảnh lịch sử. Bởi, bối cảnh (hoàn cảnh) lịch sử trong nước và thế giới ở mỗi thời kỳ lịch sử rất khác nhau. Từ sự thay đổi về hoàn cảnh lịch sử đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra những chủ trương, đường lối đúng đắn, sáng tạo cho cách mạng Việt Nam. Như vậy, bối cảnh lịch sử quyết định đến chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng, sự thay đổi bối cảnh lịch sử ở mỗi thời kỳ cũng là sự thay đổi đường lối lãnh đạo cách mạng của Đảng trong mỗi giai đoạn. Do đó, không làm rõ bối cảnh lịch sử sẽ không thấy được sự vận động, phát triển của Đảng trong tiến trình của Lịch sử Đảng. 

Thứ tư, Giảng viên cần nhận thức và lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp, tăng tính liên hệ, tính mới trong giảng dạy phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Khi giảng viên mới nghiên cứu và giảng dạy phần lịch sử Đảng thường có biểu hiện nặng về phương pháp lịch sử, coi nhẹ phương pháp lôgíc. Nghĩa là, chỉ chú trọng mô tả diễn biến của các sự kiện lịch sử Đảng để rồi phải nhớ một cách máy móc ngày, tháng, năm xảy ra các sự kiện đó mà không chú ý đến việc giúp người học hiểu được bản chất, quy luật vận động và ý nghĩa, giá trị của các sự kiện lịch sử. Hoặc có xu hướng coi nhẹ trình bày các sự kiện lịch sử hay hiểu các sự kiện lịch sử chưa thật sâu sắc và chính xác, nặng về khái quát, kết luận có sẵn trong giáo trình làm cho bài giảng ít tính hấp dẫn, sinh động. Duy trì cả 2 hình thức trên trong giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam đều không mang lại hiệu quả của việc hiểu đúng, dạy đúng, học đúng Lịch sử Đảng. Do vậy, giảng viên cần thiết phải lựa chọn và kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc trong quá trình nghiên cứu và giảng phần lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong giảng dạy, giảng viên không nên chọn phương pháp độc thoại, thuyết trình mà tăng cường đối thoại với người học, nêu câu hỏi để cùng tìm hiểu, nghiên cứu và trao đổi. Người học cũng không nên chỉ thụ động nghe mà cũng cần biết đặt ra các yêu cầu cần thiết trong khuôn khổ bài học và môn học.

Nhiều giảng viên khi giảng phần Lịch sử Đảng cứ nghĩ là khó liên hệ thực tiễn. Suy nghĩ đó đã làm bó hẹp bài giảng trong khuôn khổ kiến thức của giáo trình. Do vậy, khi giảng giảng viên nên chú ý đến tính liên hệ thực tiễn với địa phương. Chẳng hạn, giảng viên nói về xã hội Việt Nam bị phân hóa sâu sắc do hậu quả của cuộc khai thác thuộc địa của Thực dân Pháp; quá trình phân hóa các tổ chức Đảng dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam giai đoạn 1930 (bài 4: Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng) có thể liên hệ với sự phân hóa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng như quá trình vận động thành lập Đảng bộ tỉnh Hà Nam.

 Đây chỉ là một ví dụ điển hình về việc liên hệ thực tiễn với lịch sử Đảng bộ địa phương trong giảng dạy phần Lịch sử Đảng. Nếu giảng viên duy trì tốt việc liên hệ thực tiễn ở các bài khác sẽ làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn. Học viên không chỉ nắm được kiến thức Lịch sử Đảng của dân tộc mà còn thêm hiểu biết về Lịch sử Đảng bộ địa phương, thấy được mối quan hệ giữa lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương. Đồng thời, thường xuyên cập nhật kiến thức mới, những vấn đề mà lịch sử trước đây chưa được công bố để làm tăng thêm tính mới trong bài giảng.

Trên đây là một vài ý kiến của cá nhân tôi được rút ra từ kiểm nghiệm thực tiễn trong giảng dạy phần Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam những năm qua ở Trường Chính trị tỉnh Hà Nam. Hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy phần hai của môn học “Những vấn đề cơ bản về Đảng Cộng sản và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam” chương trình Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính.