DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN KỸ NĂNG DÂN VẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CƠ SỞ HIỆN NAY

       Nguyễn Hữu Hùng 

       Viên chức phòng QLĐT-NCKH

Tiếp tục khẳng định vị trí, tầm quan trọng của công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay, Hội nghị lần thứ 7 BCH TƯ Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TƯ về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng với công tác dân vận trong tình hình mới”. Nghị quyết này khẳng định công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước. Có thể xem đây là bước kế tiếp quan trọng về công tác xây dựng Đảng, sau NQTƯ4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, thể hiện quyết tâm đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt về công tác đảng để củng cố niềm tin, tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới. Mục tiêu của nghị quyết lần này được xác định rõ là tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới, nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân…

  Tuy nhiên, công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay, nhất là kỹ năng vận động nhân dân của đội ngũ lãnh đạo cấp cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Khá nhiều nơi có hiện tượng cho rằng công tác dân vận là công việc của cán bộ chuyên trách làm dân vận. Do đó, việc tuyên truyền, quán triệt và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước chưa kịp thời, chưa thường xuyên; Công tác nắm bắt, dự báo tình hình nhân dân, nắm bắt thông tin, báo cáo về những vấn đề nảy sinh của một số địa phương chưa được giải quyết. Việc tham gia giải quyết một số vụ việc phức tạp nhất là về tôn giáo, giải phóng mặt bằng, đất đai, khoáng sản, môi trường... còn lúng túng, chưa đúng quy trình, một số nơi quyền làm chủ của công dân bị vi phạm dẫn đến phát sinh điểm nóng; Phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân còn mang tính hình thức, chưa gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ chính trị ở địa phương; công tác tập hợp, thu hút phát triển hội viên, đoàn viên nhất là vùng  đồng bào có đạo còn hạn chế…

Nhằm bồi dưỡng, rèn luyện kỹ năng làm công tác dân vận góp phần nâng cao chất lượng, khắc phục những hạn chế, yếu kém để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 25 của Ban Chấp hành TW Đảng (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác Dân vận trong tình hình mới”. Đội ngũ lãnh đạo, quản lý cơ sở cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau:

1. Những nhận thức chung về kỹ năng  và kỹ năng dân vận

- Kỹ năng là năng lực, là khả năng vận dụng tri thức lý luận để giải quyết có hiệu quả các vấn đề đặt ra trong thực tiễn nhằm đạt được mục đích đã đề ra

- Tuyên truyền là truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến các đối tượng. Biến những tri thức, tinh thần, tư tưởng đó thành nhận thức, thành niềm tin cổ vũ đối tượng hành động do chủ thể tuyên truyền đặt ra. 

- Thuyết phục là dùng lý lẽ và hành động thực tế để làm cho người khác tin tưởng và hành động theo để đạt được mục đích đã định.

- Kỹ năng tuyên truyền, thuyết phục, vận động quần chúng nhân dân (Dân vận) của người lãnh đạo quản lý cấp cơ sở là những khả năng vận dụng có kết quả những tri thức, những hiểu biết về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước và những tri thức khoa học để tuyên truyền, thuyết phục, vận động quần chúng nhân dân thực hiện nhằm biến những chủ trương, đường lối chính sách pháp luật đó thành nhận thức, niềm tin và hành động cách mạng của nhân dân.

2. Một số giải pháp cụ thể

Một là, phải rèn luyện kỹ năng thu thập, phân tích và sử dụng thông tin từ nhân dân. Ngoài kênh thông tin từ cấp trên xuống, kênh thông tin từ nhân dân chính là nguồn thông tin nhanh, trực tiếp và trung thực, nó phản ánh đầy đủ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở cần nhận thức rằng ở người dân bình thường nhất, trình độ văn hoá thấp nhất cũng có thể có được những sáng kiến hay nhất, bởi vì họ là người hàng ngày đối mặt với thực tiễn, mà mọi chân lý đều nảy sinh từ thực tiễn. Việc đổi mới sang phương thức “khoán” trong nông nghiệp cũng bắt đầu từ sáng kiến của quần chúng. Như vậy, việc thực sự tôn trọng dân, tích cực thu thập, phân tích và sử dụng thông tin tại cơ sở không phải chỉ được hiểu ở góc độ nhân văn, nhân đạo mà phải hiểu ỏ góc độ khoa học; cán bộ phải nhìn dân như người “thầy” của mình (quan điểm này đã được Hồ Chí Minh nhắc nhở “học ở nhân dân”). Bên cạnh đó, thái độ luôn luôn tôn trọng dân của người lãnh đạo, quản lý cơ sở sẽ tạo cho người dân cảm thấy được chú ý, được đề cao, được tin cậy, kích thích họ tích cực suy nghĩ, tích cực tham gia góp ý kiến vừa để xây dựng cộng đồng vừa để tự khẳng định mình xứng với sự tin cậy của người lãnh đạo. Ngược lại, người dân sẽ không nhiệt tình góp ý, bàn bạc nếu biết trước rằng người lãnh đạo chỉ nghe mà không lưu tâm đến ý kiến của họ, không có thái độ tôn trọng họ.

Hai là, người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải giữ vững nguyên tắc “tất cả người dân cần phải biết những thông tin liên quan đến việc thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ của địa phương mình”, có như vậy công tác vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mới thành công. Bưng bít thông tin là cách tốt nhất để hạn chế dân chủ, mà khi dân chủ bị hạn chế thì không thể vận động dân làm gì. Khi người lãnh đạo muốn bưng bít thông tin liên quan đến những công việc chung của tập thể, cộng đồng là dấu hiệu của việc xa rời dân.

Ở nông thôn hiện nay, các thông tin liên quan đến tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, thôn xóm có thể phổ biến đến từng người dân thông qua nhiều hình thức. Đối với những khu dân cư sống tập trung gần nhau thì cách phổ biến thông tin qua loa truyền thanh, qua niêm yết nơi công cộng là rất hiệu quả mà không tốn kém. Ở nông thôn, nhìn chung cách phổ biến thông tin tốt nhất là qua loa truyền thanh, bởi vì thông tin trên loa truyền thanh sẽ đến được với cả những người dân còn thờ ơ chính trị. Ngoài chức năng thông báo, thông tin trên truyền thanh còn thực hiện được chức năng cổ vũ chính trị, tác động sâu sắc vào nhận thức, tình cảm của người dân nếu một khi nó được lãnh đạo quan tâm chỉ đạo để tổ chức thông tin tốt. Thông tin đến vói người dân không chỉ cần đầy đủ, chính xác mà còn phải đúng lúc, kịp thời. Nhiều người dân cho rằng nếu trước khi đến cuộc họp mà họ chưa biết được nội dung cụ thể của cuộc họp là gì, chưa biết được một số thông tin như mục tiêu, nhiệm vụ cần đạt được, điều kiện, phương tiện, nhân lực, vật lực hiện có... thì không thể chuẩn bị ý kiến để bàn, để phát biểu tốt được. Nhiều đại biểu Hội đồng nhân dân cho rằng, trước kỳ họp, Hội đồng nhân dân xã có gửi báo cáo tổng kết của quý, của năm đến các đại biểu nhưng thời gian chưa đủ để đại biểu kiểm tra lại tính chính xác của thông tin đó thì cũng không thể chuẩn bị ý kiến chất vấn tốt được. Rõ ràng, chỉ nhìn vào phương pháp của ngưòi lãnh đạo, quản lý ở cơ sở nông thôn trong việc chỉ đạo phổ biến thông tin cũng có thể biết được quá trình lãnh đạo, quản lý là dân chủ thực sự hay dân chủ hình thức, hay độc đoán, chuyên quyền. Qua đó cũng có thể biết được kết quả vận động nhận dân được thực hiện tốt ở địa phương đó hay không.

Ba là, muốn công tác dân vận đạt hiệu quả cao thì một yếu tố quan trọng là người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải biết cách gợi cho dân nói. Trong các cuộc họp bàn, nếu người lãnh đạo giữ vai trò chủ trì, điều khiển thì phải quán triệt nguyên tắc “nghe dân nói là chính”, khắc phục bệnh thường gặp ở cán bộ lãnh đạo trong các cuộc họp là “nói cho dân nghe là chính”. Nhiều người lãnh đạo, quản lý thể hiện phong cách dân chủ hình thức bằng cách tổ chức cho quần chúng họp bàn trước khi ra một quyết định nhưng trong cuộc họp bàn, bản thân họ lại dành rất nhiều thời gian để nói ý kiến của mình, thời gian còn lại không đủ để tất cả những người muốn phát biểu có thể nói lên ý kiến của họ. Trong số các ý kiến đã phát biểu thì có không ít người đã tranh thủ xin phát biểu trước để “a dua” theo ý kiến lãnh đạo. Như thế có họp bàn cũng không huy động được trí tuệ của tập thể, của quần chúng, họp bàn nhiều khi chỉ là “vỏ bọc dân chủ”của phong cách độc đoán.

Người lãnh đạo thực sự muốn lắng nghe quần chúng, trong nhiều trường hợp còn phải khéo léo lui về phía sau, nhờ những người được quần chúng tín nhiệm đứng ra điều khiển cuộc họp bàn với những nội dung đã được người lãnh đạo hướng dẫn, chỉ đạo. Ngưòi lãnh đạo giữ vị trí là một người nghe bình thường hoặc nghe “ẩn mình”. Dưới góc độ tâm lý học, cách thức lắng nghe này đôi khi rất hiệu quả bởi vì ngưòi dân dễ nói thật lòng những mắc mớ, nghi ngờ của họ khi người lãnh đạo không có mặt; hoặc là người được họ yêu quý, tín nhiệm điều khiển cuộc họp thì khoảng cách tâm lý trong giao tiếp được rút ngắn, người dân thấy không tự ti, ngần ngại khi phát biểu ý kiến.

Bốn là, muốn “Dân vận khéo” thì người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải chú ý dành thời gian để gần dân, tiếp xúc với dân. Không phải mọi ý kiến, sáng kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đều được nói ra hết ở cuộc họp, do đó, gần dân, sát dân để qua giao tiếp phát hiện ra những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của dân, những ý kiến nhận xét xác đáng của dân là rất cần thiết. Nhiều khi nhu cầu, nguyện vọng nảy sinh ở một người dân lại là ý tưởng để hình thành nên một mục tiêu mới táo bạo trong quản lý. Với một người dân, nhu cầu đó có thể là một ước mơ xa vời, nhưng với trí tuệ, tiềm lực của cả cộng đồng thì nhu cầu đó lại là một mục tiêu khả thi. Vì thế, người lãnh đạo dân chủ, nhạy bén là người phải sát dân, “ba cùng với dân”, thành thực lắng nghe dân bằng sự nhạy cảm của trái tim và sự sáng suốt của lý trí. Nếu chỉ tiếp xúc, nghe dân một cách hời hợt, hình thức thì sớm muộn gì dân cũng sẽ nhận ra đó chỉ là phương pháp “mỵ dân”, dân chủ giả hiệu.

Năm là, người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải thể hiện các đức tính khiêm tốn, niềm nở, lịch thiệp, dũng cảm. Thông thường người ta dễ dàng, mạnh dạn trao đổi, bàn bạc, góp ý với người lãnh đạo có tính khiêm tốn, niềm nở, lịch thiệp bởi vì với những đức tính này, “hàng rào tâm lý” giữa người lãnh đạo và dân dễ được xoá bỏ. Nhân dân ngại trao đổi với người lãnh đạo, quản lý có tính tự cao tự đại, lạnh lùng, nóng nảy. Dũng cảm thừa nhận sai lầm, dũng cảm từ bỏ những quyết định sai lầm của người lãnh đạo, không bảo thủ, không bao biện khi thấy mình sai cũng là một đức tính khiến quần chúng thêm yêu quý, mến phục người lãnh đạo và sẵn lòng đóng góp các ý kiên phê bình có tính chất xây dựng mà không e ngại “mất lòng lãnh đạo”.

Sáu là, người lãnh đạo, quản lý theo phong cách dân chủ là người nhận thức và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, dám quyết đoán kịp thời với tinh thần trách nhiệm cao; là người quan tâm kiểm tra sâu sát, cụ thể các hoạt động kinh tế, văn hoá, xậ hội ở địa phương và sẵn sàng tạo điều kiện để các cơ quan cấp trên cũng như các tổ chức như Hội đồng nhân dân, Ban Thanh tra nhân dân thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền. Họ phải công khai, nghiêm khắc trong tự phê bình và đẩy mạnh hoạt động phê và tự phê trong tập thể lãnh đạo, trong đảng viên, trong cộng đồng.

Qua những phân tích trên cho thấy, công tác dân vận ở cơ sở có đạt hiệu quả tốt hay không phụ thuộc rất lớn vào cách thức, phương pháp tổ chức triển khai, thực hiện của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở. Nếu người lãnh đạo, quản lý ở cơ sở không có kỹ năng vận động nhân dân một cách đúng đắn, không quán triệt những nguyên tắc, phương pháp cơ bản nhằm kích thích tính tích cực làm chủ của quần chúng thì dễ dẫn đến hiện tượng xa dân, không vận động được nhân dân, có thể không làm sai nhưng cũng không làm tốt công tác vận động nhân dân.