DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

                                                                                                                                                            Nguyễn Thị Linh

                                                                                                                              Khoa Xây dựng Đảng

      Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Ngay từ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm đứng ra nhận sứ mệnh lịch sử to lớn mà giai cấp và dân tộc giao phó: Lãnh đạo các tầng lớp nhân dân Việt Nam đấu tranh chống thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, dân chủ cho nhân dân đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản qua các giai đoạn lich sử. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp mở đầu cuộc tái xâm lược nước ta lần hai bằng việc nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Mười sáu tháng sau, ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ trên phạm vi cả nước.Trải qua 8 năm (1946-1954) kháng chiến đầy gian khổ, hy sinh, nhân dân ta đã lần lượt đánh thắng các âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, giành thắng lợi từng bước qua các chiến dịch và tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn vào năm 1954.Thực tế lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước cho thấy, thành quả đạt được ấy là tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó trực tiếp là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

       Trong quá trình hoạch định đường lối và lãnh đạo cuộc kháng chiến, mặc dù Đảng luôn xác định cách mạng Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của cách mạng thế giới, cuộc kháng chiến của chúng ta là nằm trong xu thế của cách mạng thế giới và Đảng đã luôn tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của lực lượng cách mạng và dân chủ trên thế giới.Tuy nhiên, Đảng vẫn luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ trong việc hoạch định đường lối và phương pháp cách mạng thích hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của nước ta nhằm phát huy cao độ tinh thần sức mạnh trong nước để chiến thắng kẻ thù. Xuất phát từ thực tế tương quan so sánh lực lượng giữa ta và thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn: Toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính. Kháng chiến đi đôi với kiến quốc để kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công.

      Từ thực tiễn của kháng chiến, Đảng không ngừng bổ sung và phát triển đường lối kháng chiến. Năm 1947 đến 1950, Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều chỉ thị quan trọng chỉ đạo kháng chiến trên tất cả các lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa. Củng cố và phát triển chế độ dân chủ nhân dân với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tổ chức của chính quyền Nhà nước cách mạng, xây dựng, phát triển quân đội nhân dân, công an nhân dân - những lực lượng trọng yếu của Nhà nước cách mạng do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Tháng 3-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ 6 điều về tư cách người công an cách mệnh. Cũng thời gian đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp và quân hàm cấp tướng cho 10 đồng chí khác. Xây dựng, phát triển Mặt trận Việt Minh - Liên Việt để tập hợp đoàn kết toàn dân tộc. Bộ máy Chính phủ, kháng chiến và chính quyền các cấp được xây dựng, củng cố vững mạnh ở căn cứ địa và vùng tự do. Kiên quyết chống chính quyền bù nhìn Bảo Đại và phá chính quyền địch ở cơ sở trong vùng địch tạm chiếm.

       Sự nghiệp kháng chiến toàn dân, toàn diện phát triển mạnh mẽ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định triệu tập Đại hội lần thứ hai của Đảng họp từ ngày 11 đến 19-2-1951 tại xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, hoàn chỉnh đường lối kháng chiến. Đại hội II của Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng chính quyền mạnh mẽ, sắc bén: Một chính quyền cách mạng phải mạnh. Sức mạnh của nó là sức mạnh của nhân dân. Lúc nào nhân dân yêu mến chính quyền của mình, hy sinh chiến đấu cho chính quyền ấy thì chính quyền ấy mới mạnh. Muốn như thế thì trước tiên chính quyền ấy phải thiết thực bênh vực quyền lợi cho nhân dân về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Nhờ đó, nhân dân Việt Nam coi chính quyền là ruột thịt của mình. Chúng ta kháng chiến thắng lợi là nhờ đó.Với đường lối và sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, với sức mạnh của chiến tranh nhân dân, quân đội và nhân dân Việt Nam đã thắng lớn trong chiến dịch Hòa Bình (10-12-1951 đến 25-2-1952). Tiếp đó giành thắng lợi trong chiến dịch Tây Bắc (14-10 đến 10-12-1952). Đồng thời giành thắng lợi trên các chiến trường phối hợp khác.Thắng lợi đó đã làm phá sản kế hoạch chiến tranh Dellatre De Tassigny (1951) của thực dân Pháp với sự can thiệp mạnh mẽ của Mỹ.

      Cùng với chiến thắng quân sự, Đảng đã lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục. Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ ba từ ngày 01 đến ngày 04-12-1953 đã thông qua Luật cải cách ruộng đất. Khi quân Pháp tập trung lực lượng cơ động chiến lược ở đồng bằng Bắc Bộ, Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương đẩy mạnh tiến công bằng 03 thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích) trên tất cả các chiến trường Nam Bộ, Khu V, Tây Nguyên, Lào, Campuchia, triệt để phân tán lực lượng của địch. Thực dân Pháp đã buộc phải phân tán quân để giữ các địa bàn chiến lược: Tây Bắc, Thượng Lào, Trung và Hạ Lào, Tây Nguyên và đồng bằng Bắc Bộ. Thực dân Pháp thấy rõ vị trí chiến lược trọng yếu của Tây Bắc Việt Nam với toàn chiến trường Đông Dương. Đến ngày 20-11-1953, Pháp cho quân chiếm lĩnh Điện Biên Phủ và xây dựng tại đây một tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất.

     Với quyết tâm giành thắng lợi ở mặt trận Tây Bắc và Điện Biên Phủ, nó có tầm quan trọng đặc biệt với toàn chiến trường và mặt trận ngoại giao. Chấp hành chủ trương của Đảng và Chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh chắc thắng mới đánh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thảo luận kỹ lưỡng trong Đảng ủy và Bộ Tư lệnh mặt trận, quyết định thay đổi cách đánh, chuyển từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Để chuẩn bị tốt hơn về mọi mặt và thay đổi cách đánh nên thời điểm khởi đầu chiến dịch đã lùi từ cuối tháng 01 đến ngày 13-3-1954.

     Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng chiều 07-5-1954.  Chiến thắng vẻ vang ở Điện Biên Phủ chẳng những làm phá sản Kế hoạch H.Navarre mà còn làm thất bại ý đồ giành thắng lợi bằng quân sự của địch, buộc Pháp phải thương lượng tại Hội nghị Geneve để đi đến chấm dứt chiến tranh. Ngày 08-5-1954, một ngày sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu đã tới tham dự đàm phán ở Geneve trong tư thế của một dân tộc chiến thắng. Trải qua 75 ngày đấu tranh ngoại giao tại một hội nghị quốc tế của các nước lớn, cuối cùng  Hội nghị Geneve (21-7-1954) đã đi đến ký kết hiệp định đình chiến, và các nước ký Tuyên bố cuối cùng công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước: Việt Nam, Lào, Campuchia.

      Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946-1954) mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ là chiến công hiển hách trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng đó gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính. Sự lãnh đạo, chỉ đạo đó đã phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển sáng tạo khoa học, nghệ thuật chiến tranh cách mạng với sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân trong thời đại Hồ Chí Minh. Đã phát huy cao nhất sức mạnh của chế độ mới với vai trò, chức năng, nhiệm vụ nội trị, ngoại giao của chính quyền Nhà nước dân chủ nhân dân.

      Hiện nay, các thế lực thù địch vẫn đang tiếp tục thực hiện âm mưu chống phá cách mạng nước ta với nhiều phương thức, thủ đoạn mới rất tinh vi, xảo quyệt. Chúng đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc hòng hạ thấp và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Để mãi mãi xứng đáng với vai trò lãnh đạo của mình trong chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, đòi hỏi Đảng cần phải tiếp tục chú trọng hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thực sự “là đạo đức, là văn minh”.