DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GÓP PHẦN THI ĐUA GIẢNG DẠY TỐT – HỌC TẬP TỐT

 Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH HÀ NAM

                                                                                                                Ths. Trần Văn Quảng

                                                                                                                P.Trưởng phòng QLĐT- NCKH

Ngày 11 tháng 6 năm 1948, Bác ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Thực hiện lời kêu gọi của Bác, các ban ngành, đoàn thể đã phát động phong trào thi đua của ngành. Hơn 70 năm qua, phong trào thi đua yêu nước của nhân dân ta theo lời kêu gọi thi đua của Bác đã góp phần làm nên những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng đất nước.

Thực hiện lời dạy của Bác, ngành giáo dục đã phát động phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” để tăng chất lượng giáo dục, đào tạo ra những con người mới phát triển toàn diện. Trên cơ sở đó Trường Chính trị tỉnh Hà Nam cũng phát động phong trào 5 tốt “ Dạy dạy tốt, Học tập tốt, Nghiên cứu tốt, Quản lý tốt, Phục vụ tốt” Trong khuôn khổ bài viết này tôi trình bày tư tưởng của Bác về thi đua “dạy tốt, học tốt”, đến phong trào thi đuanghiên cứu tốt ở trường Chính trị tỉnh Hà Nam.

1. Tư tưởng của Bác về thi đua “dạy tốt, học tốt

Đối với Bác, thi đua là khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự cường, lòng tự tôn và khí phách tự hào dân tộc.

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi, giành được chính quyền, trong hoàn cảnh khó khăn “ngàn cân treo sợi tóc”, giáo dục vẫn được Bác nhắc đến như một vấn đề tối quan trọng. Bác khẳng định và nhấn mạnh: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.

Ba năm sau Cách mạng tháng Tám thành công, trong bộn bề công việc, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở vào giai đoạn gay go, quyết liệt, nhưng Bác vẫn luôn dành thời gian quý hiếm của mình để nghĩ về vấn đề thi đua. Vào dịp kỷ niệm ngày 01/05/1948, Bác đã ra Lời kêu gọi thi đua yêu nước, trong đó nhấn mạnh:

Nước ta kinh tế lạc hậu, nhưng lòng yêu nước và chí quật cường chẳng kém ai.

Nay muốn tự cấp, tự túc, đi kịp người ta thì chúng ta phải đi mau.

Vì vậy, sĩ, nông, công, thương, binh, gái trai, già trẻ, toàn thể quốc dân ta, vô luận ở địa vị nào, làm công việc gì, phải ra sức tham gia cuộc thi đua yêu nước, tức là tăng gia sản xuất[1].

Tiếp đó, nhân kỷ niệm 1000 ngày toàn quốc kháng chiến, ngày 11/06/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Đây là sự tổng kết thực tiễn sâu sắc, đồng thời nêu lên những yêu cầu quan trọng, cấp thiết đối với phong trào cách mạng nước ta. Bác đã chỉ ra nhiệm vụ của thi đua ái quốc là:

Diệt giặc đói,

Diệt giặc dốt,

Diệt giặc ngoại xâm[2].

Bác chỉ rõ giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ quan trọng của đất nước cùng với giặc đói và giặc ngoại xâm. Diệt giặc dốt là nhiệm vụ quan trọng thứ hai sau diệt giặc đói và xếp trên giặc ngoại xâm.

Bác cho rằng: “Bổn phận của người dân Việt Nam, bất kỳ sĩ, nông, công, thương, binh; bất kỳ làm việc gì đều cần phải thi đua nhau:

Làm cho mau

Làm cho tốt,

Làm cho nhiều[3].

Bác tin tưởng rằng: “Thi đua ái quốc sẽ ăn sâu, lan rộng khắp mọi mặt và mọi tầng lớp nhân dân, và sẽ giúp ta dẹp tan mọi nỗi khó khăn và mọi âm mưu của địch để đi đến thắng lợi cuối cùng[4].

Và để thực hiện thắng lợi mục tiêu, Bác cũng yêu cầu: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ tranh đấu trên các mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa[5].

Lời kêu gọi thi đua ái quốc của Bác đã mở đầu cho các phong trào thi đua yêu nước phát triển, lan rộng và trở thành cao trào cách mạng của nhân dân, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp dựng nước của dân tộc.

Tiếp theo Lời kêu gọi thi đua ái quốc, để thực hiên nhiệm vụ diệt giặc dốt và động viên phong trào thi đua trong ngành giáo dục Bác còn trực tiếp viết thư Gửi anh chị em cán bộ bình dân học vụ trong dịp phát động thi đua ái quốc, trong đó Bác kêu gọi: “Tôi mong rằng trong cuộc Thi đua ái quốc, các chiến sĩ sẽ hăng hái xung phong, diệt cho hết giặc dốt[6].

Sự quan tâm của Bác đối với phong trào thi đua trong ngành giáo dục còn thể hiện qua trên dưới 5 bài nói chuyện tại các hội nghị ngành giáo dục và thư gửi các thầy giáo, cô giáo... Không chỉ ra lời kêu gọi mọi người thi đua mà Bác còn luôn theo dõi sát sao và dành sự quan tâm đặc biệt cũng như sự động viên kịp thời cho phong trào. Đặc biệt, trong mỗi bài phát biểu, bài viết, Bác luôn đưa ra những nhận định cụ thể về ưu điểm cũng như những điểm còn hạn chế trong ngành giáo dục, từ đó động viên các thầy giáo, cô giáo phấn đấu để trở thành những thầy giáo, cô giáo giỏi, như bài Nói chuyện tại Đại hội Chiến sĩ thi đua toàn ngành giáo dục (17/02/1956), Bài nói tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm...

Bác khẳng định: “Nhiệm vụ của các cô giáo, thầy giáo rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Muốn làm tròn nhiệm vụ đó thì phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, không ngừng bồi dưỡng đạo đức cách mạng, lập trường chính trị; phải ra sức đoàn kết giúp đỡ nhau cùng tiến bộ[7]. Và “dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt[8].

Như vậy, qua một số bài viết, bài nói chuyện, thư của Bác liên quan đến phong trào thi đua của ngành giáo dục, có thể thấy, Bác rất quan tâm đến phong trào thi đua yêu nước nói chung và phong trào thi đua trong ngành giáo dục nói riêng. Bác khẳng định vị trí của thi đua trong sự nghiệp cách mạng, thi đua là yêu nước. Bác cũng khẳng định diệt giặc dốt là một trong ba nhiệm vụ quan trọng của thi đua ái quốc. Trong việc thực hiện nhiệm vụ diệt giặc dốt, nhiệm vụ của người giáo viên khó khăn nhưng rất quan trọng và “dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”.

       2. ... Đến phong trào thi đua “nghiên cứu tốt ” ở trường Chính trị tỉnh Hà Nam

Nghiên cứu khoa học là hoạt động trí tuệ đặc thù thông qua sử dụng những phương pháp nhất định để tìm kiếm, chỉ ra một cách chính xác mục đích và những điều con người chưa biết (hoặc biết chưa đầy đủ); tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới, có giá trị về nhận thức hoặc về phương pháp trong quá trình nhận thức chân lý khách quan. Với mục đích nhận thức và cải tạo thế giới, hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm các yếu tố chủ yếu là: Chủ thể nghiên cứu; mục đích nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; sản phẩm của nghiên cứu; giá trị khoa học của kết quả nghiên cứu.

Đối với một cơ sở đào tạo, bồi dưỡng hoạt động nghiên cứu khoa học không có mục đích tự thân mà tùy thuộc vào công tác đào tạo, bồi dưỡng. Yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đặt nhiệm vụ cho hoạt động nghiên cứu khoa học và sự phát triển của hoạt động này đến lượt nó thúc đẩy công tác đào tạo, bồi dưỡng phát triển. Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác nghiên cứu khoa học, ngay từ khi mới tái thành lập trường Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường đã xác định đây là một trong những công tác trọng tâm đối với từng năm học nhằm nâng cao chất lượng và khẳng định năng lực đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường. Là một cơ sở đào tạo, bồi dưỡng mới được tái thành lập 21 năm, có nhiều yếu tố bất lợi so với các trường Chính trị trong tất cả các mặt công tác, trong đó có công tác nghiên cứu khoa học. Đầu tiên phải kể đến nguồn lực cán bộ, giảng viên hầu hết còn rất trẻ, mới tốt nghiệp ra trường, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế, kỹ năng nghiên cứu khoa học chỉ mới ở giai đoạn bước đầu tiếp cận; công tác giảng dạy, xây dựng Nhà trường được tập trung “ưu tiên” dẫn đến công tác nghiên cứu khoa học chưa được chú trọng đúng mức; điều kiện để cán bộ, giảng viên cọ xát hoặc trải nghiệm còn ít, kinh phí chi cho nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế…

Quán triệt thực hiện Luật Khoa học công nghệ năm 2013; Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030; Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020; Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường đã có những định hướng, chỉ đạo đúng đắn, kịp thời đồng thời phát động các phong trào thi đua để đưa hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường dần bắt nhịp và đi vào nề nếp. Hàng năm nhà trường đều xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học trên cơ sở quy định của Nhà nước và yêu cầu công tác thực tiễn của nhà trường; đã ban hành Quy chế về công tác nghiên cứu khoa học; Quy định về đăng ký, xét duyệt, nghiệm thu công trình, sáng kiến, cải tiến. Quy trình tổ chức xét chọn, triển khai thực hiện và tổ chức đánh giá, nghiệm thu được tiến hành một cách chặt chẽ, nghiêm túc. Thông qua các buổi Hội thảo, Tọa đàm khoa học nhiều cán bộ, giảng viên đã hình thành được kỹ năng nghiên cứu khoa học, dần đam mê với lĩnh vực này, đã mạnh dạn đăng ký nhiều đề tài mới, có tính thực tiễn sâu sắc với mong muốn nâng cao chất lượng các mặt công tác, nhất là công tác  đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường. Nguồn tài liệu để cán bộ, giảng viên, học viên tiếp cận phục vụ nghiên cứu khoa học ngày càng được đầu tư phong phú, có chất lượng.

Trên cơ sở đó hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường trong thời gian qua không chỉ tăng về số lượng mà chất lượng ngày càng được nâng cao. Từ khi tái thành lập đến nay, cán bộ, giảng viên nhà trường đã cho ra đời nhiều sản phẩm khoa học có giá trị, góp phần nâng cao chất lượng đào đào, bồi dưỡng cũng như công tác phục vụ trong Trường như: Đã thực hiện 02 đề tài khoa học cấp Tỉnh và 26 đề tài cấp trường, 40 đề tài cấp khoa; đã có 42 bài báo khoa học của cán bộ, giáo viên được đăng trên các tạp chí ở trung ương…; 01 báo cáo khoa học được đăng tại Hội thảo khoa học cấp bộ; đã tổ chức thành công 08 Hội thảo, Hội nghị khoa học cấp Trường và liên trường về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, góp phần định hướng đổi mới công tác đào tạo của nhà trường theo quan điểm của Đảng, Nhà nước và Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đáng chú ý là nhà trường đã xây dựng được trang Website và xuất bản được 24 số Nội san “Thông tin lý luận & thực tiễn”, Hàng trăm cuốn Kỷ yếu Khoa học đẹp về hình thức, đảm bảo về nội dung góp phần khẳng định và quảng bá hình ảnh của nhà trường, là “diễn đàn” để cán bộ, giảng  viên và học viên chia sẻ quan điểm của mình trên các lĩnh vực công tác.

Bên cạnh đó, hiện nay nhà trường có 03 đồng chí đang nghiên cứu sinh tại các cơ sở đào tạo trong và ngoài ngành; 26 đồng chí bảo vệ thành công Luận văn Thạc sĩ tại các cơ sở đào tạo trong và ngoài ngành; 03 đồng chí đang học cao học đã và đang tập trung nghiên cứu các đề tài trong lĩnh chuyên môn giảng dạy

Đây thực sự là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà trường trong công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy của giảng viên và học tập của học viên…

Để góp phần nâng cao chất lượng công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học cũng như tạo không khí thi đua sôi nổi trong nhà trường, nhà trường đã triển khai thực hiện các công trình, sáng kiến, cải tiến trên cơ sở Quy định về đăng ký, xét duyệt và nghiệm thu công trình, sáng kiến, cải tiến. Đến nay, 40 công trình, sáng kiến, cải tiến cấp trường và 23 công trình, sáng kiến cấp tỉnh đã tổ chức nghiệm thu và đang triển khai ứng dụng rộng khắp trong nhà trường.

Trong bối cảnh khoa học công nghệ của thế giới và Việt Nam đang phát triển ở tốc độ nhanh chóng như hiện nay, công tác nghiên cứu khoa học của nhà trường cần phải có những định hướng, chủ trương kịp thời để tiếp tục phát triển, không để “tụt hậu” so với bên ngoài, đặc biệt là với các trường Chính trị khác. Để công tác nghiên cứu khoa học thật sự là một phong trào thi đua, có chất lượng, đi vào chiều sâu, thực sự hỗ trợ cho công tác giảng dạy, học tập chúng ta cần tập trung vào một số vấn đề như:

Một là, nhận thức đúng vai trò của công tác nghiên cứu khoa học đối với sự phát triển của nhà trường, xác định đúng phương hướng, nhiệm vụ hoạt động nghiên cứu khoa học. Đảng ủy, Ban Giám hiệu cần quan tâm hơn nữa đến công tác nghiên cứu khoa học, nhất là công tác chỉ đạo, định hướng và tạo những điều kiện tốt nhất cho cán bộ, giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học. Mặt khác, cần chỉ đạo thực hiện nghiêm túc trong việc đánh giá, nghiệm thu các sản phẩm khoa học, phải bám sát các tiêu chí, thang điểm theo quy định. Tránh hiện tượng “nể nang”, “dễ dãi” trong đánh giá, nghiệm thu.

Hai là, các đơn vị trong Nhà trường và mỗi cá nhân cán bộ, giảng viên phải quan tâm đầu tư hơn nữa đối với công tác nghiên cứu khoa học, xem đây vừa là phong trào, vừa là trách nhiệm đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo của nhà trường. Muốn vậy, lãnh đạo các khoa, phòng phải định hướng kịp thời, đồng thời động viên cán bộ tích cực tham gia, tăng cường kiểm tra, đôn đốc trong quá trình triển khai thực hiện.

Ba là, thường xuyên cử cán bộ, giảng viên đi tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ cán bộ, giảng viên về công tác nghiên cứu khoa học. Trong đó cần tập trung bồi dưỡng về lựa chọn vấn đề nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu…. Bên cạnh đó cần phối hợp, trao đổi với các trường Chính trị, với các đơn vị, địa phương có liên quan để tăng cường các hoạt động giao lưu, trao đổi giúp cho việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu không bị trùng lặp và giúp cho hoạt động nghiên cứu khoa học luôn gắn với thực tiễn; phối hợp chuyển giao các nhiệm vụ khoa học đã được nghiên cứu, đa dạng hóa các hình thức nghiên cứu khoa học;

Bốn là, cần nghiên cứu sơ kết, tổng kết công tác nghiên cứu khoa học của nhà trường để đánh giá thực trạng, kết quả đạt được, qua đó đề xuất các chủ trương, biện pháp một cách dài hạn góp phần nâng cao hiệu quả công tác này. Việc tổng kết phải được tiến hành toàn diện trên các mặt chỉ đạo, lãnh đạo, công tác tham mưu và triển khai thực hiện, công tác phục vụ đảm bảo, trên các lĩnh vực: Thực hiện các công trình, sáng kiến, cải tiến; các nhiệm vụ khoa học; các chuyên đề chuyên sâu, xuất bản Nội san, viết bài đăng trang Website của nhà trường, các tạp chí trung ương. Suy cho cùng, nghiên cứu khoa học chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả các mặt công tác trong Nhà trường và phục vụ đắc lực cho hoạt động giảng dạy. Do vậy, các vấn đề tập trung nghiên cứu khoa học trong thời gian tới cũng phải từ thực tế của Nhà trường để lựa chọn cho phù hợp. Ngoài bài viết đăng nội san, tạp chí, đối với các đề tài khoa học, các công trình, sáng kiến, cải tiến cần tập trung vào những nội dung cụ thể: Các biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập; đổi mới quy trình làm việc của các đơn vị; ứng dụng công nghệ thông tin để xây dựng các phần mềm quản lý, trao đổi dữ liệu trong giảng dạy, học tập và công tác…

Nghiên cứu khoa học của nhà trường là một lĩnh vực khá rộng, trong phạm vi của một bài viết tôi chỉ tập trung khái quát những kết quả đạt được cùng những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong thời gian từ lúc nhà trường tái thành lập đến nay, trên cơ sở đó đề xuất một số vấn đề với mong muốn nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu khoa học trong thời gian tới, góp phần thi đua nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường.


[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5 (1947 - 1949), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.419

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5 (1947 - 1949), Sđd, tr.444.

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5 (1947 - 1949), Sđd, tr.444.

[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5 (1947 - 1949), Sđd, tr.445.

[5] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5 (1947 - 1949), Sđd, tr.444

[6] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5 (1947 - 1949), Sđd, tr.484.

[7] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11 (1963 - 1965), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1966, tr.616.

[8] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 12 (1966 - 1969), Sđd, tr.603.