DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

                                                                                                      Nguyễn Thị Thu

                                                                                                                                           Khoa Lý luận cơ sở

Học tập, nghiên cứu những nội dung cơ bản về phong cách ứng xử văn hóa  Hồ Chí Minh, thực hiện nói đi đôi với làm, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống giản dị, trong sáng, luôn gắn bó mật thiết vói nhân dân là yêu cầu, nhiệm vụ quan trọng cấp thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta hiện nay .

Khi nói đến phong cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có nhiều ý kiến đánh giá, nhưng tựu chung lại vào hai chữ văn hóa, là một phong cách ứng xử văn hóa. Hồ Chí Minh có cách ứng xử rất tự nhiên, bình dị, rất cởi mở, chân tình, vừa chủ động, linh hoạt, lại vừa ân cần, tế nhị đối với nhân dân, bạn bè, đồng chí, anh em, làm cho bất cứ ai được gặp Người đều thấy không khí chan hòa, ấm cúng, thoải mái, không cảm thấy sự cách biệt giữa lãnh tụ và quần chúng.

Hồ Chí Minh giao tiếp với nhiều đối tượng khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau. Tùy theo đối tượng và địa bàn mà Người có cách ứng xử phù hợp. Trong phong cách ứng xử của Hồ Chí Minh, nổi trội vẫn là phong cách ứng xử của một nhà chính trị chuyên nghiệp, một nhà văn hóa kiệt xuất. Ở Hồ Chí Minh, chính trị và văn hóa hòa quyện với nhau, văn hóa mang tính chính trị và chính trị có tính văn hóa.

Từng bối cảnh cụ thể, phong cách Hồ Chí Minh có cách ứng xử thật là độc đáo, khó ai có thể xử lý được như vậy, Cụ thể:

Thứ nhất, ứng xử khiêm tốn, nhã nhặn, lịch lãm

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ lần thứ hai. Trong cuộc mít tinh có hàng vạn người dự tại Red Fort (Thành Đỏ) ở Thủ đô Delhi, các bạn Ấn Độ làm sẵn một cái ghế cho Bác Hồ ngồi trên bục danh dự. Chiếc ghế trông như một cái ngai vàng, rất lớn. Trong khi đó, Thủ tướng Ấn Độ ngày ấy là J. Neru thì chỉ ngồi một chiếc ghế bình thường như mọi người khác. Khi Thủ tướng Neru mời Bác Hồ ngồi vào chiếc ghế đó, Bác dứt khoát từ chối. Thấy vậy, Thủ tướng Neru nói: “Ngài là khách danh dự của chúng tôi, việc Ngài ngồi lên chiếc ghế này chính là niềm vinh dự của chúng tôi”. Chứng kiến điều này, hàng vạn người dự mít tinh phía dưới quảng trường đứng cả lên xem. Hai vị lãnh tụ của hai nước cứ nhường nhau, chẳng ai chịu ngồi lên chiếc ghế lớn ấy. Cuối cùng, Thủ tướng Neru đành gọi người cho chuyển chiếc ghế đi, thay bằng một chiếc ghế khác giản dị hơn. Thấy vậy, hàng vạn người dân Ấn Độ dưới quảng trường rất cảm kích vỗ tay vang dội và hô rất to: “Hồ Chí Minh muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!”. 

Thứ hai, tài ứng xử linh hoạt, biến hóa        

Khoảng giữa năm 1949, một nhà báo Thái Lan trực tiếp phỏng vấn Hồ Chủ tịch để thăm dò xem Việt Nam đứng về phía nào trong cuộc chiến Quốc - Cộng ở Trung Quốc.

- Thưa Cụ Chủ tịch, nước Việt Nam của Cụ đứng về phía ông Tưởng hay ông Mao? Xin Cụ miễn cho câu trả lời “đứng trung lập”.

- Chúng tôi đứng trung lập. Cũng như Thái Lan của ông đang đứng trung lập giữa Anh và Mỹ!           

- Nghe nói quân giải phóng nhân dân Trung Hoa đã gửi cho Cụ súng cối và súng liên thanh. Cụ đã nhận được chưa, nếu chưa thì Cụ có định nhận không?

- Chúng tôi chưa nhận được gì hết. Còn đúng như ông nói là họ có ý định gửi cho chúng tôi thì trong trường hợp này, ông khuyên chúng tôi nên làm như thế nào?

Thứ ba, ứng xử chân tình, nồng hậu có lý, có tình

Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét. Gió bấc thổi mạnh, mưa phùn lâm râm gây nên cái lạnh buốt. Bác vẫn làm việc rất khuya. Bác khoác chiếc áo bông đã cũ. Tiếng máy chữ lách tách, lách tách đều đều... Trời lạnh, nhưng được đứng gác bên Bác, các chiến sĩ thấy lòng mình như được sưởi ấm lên. Có lần vừa đi, vừa nghĩ, một chiến sĩ bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Anh đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng bước chân đi về phía mình. 

 - Chú nào ngã đấy?

  Chưa kịp trả lời Bác, thì chiến sĩ đã thấy hai tay Bác luồn vào hai nách. Chiến sĩ cố trấn tĩnh lại để nói một lời thì giật mình khi thấy Bác không khoác áo bông. Vừa kéo, Bác vừa hỏi: 

- Chú ngã có đau không?

Bác nắn chân, nắn tay chiến sĩ rồi nói:

- Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống!

- Thưa Bác, cháu không việc gì ạ!

-Anh chiến sĩ cố gắng bước đi để Bác yên lòng.

Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”. 

Có thể nói, phong cách ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh được thể hiện ở những nét cơ bản sau:

Một là: Phong cách ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh luôn mang đậm nét văn hóa nhân văn, vì con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn biết quan tâm, lắng nghe, nắm bắt nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, trí thức, công thương, tôn giáo - dân tộc …; luôn thể hiện phong cách ứng xử giản dị, gần gũi, cởi mở, tế nhị và chu đáo với tất cả mọi người. Có thể nói, trên thế giới hiếm có nhà lãnh đạo nào có được phong cách ứng xử giàu giá trị văn hóa như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Bác, “Đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trọng nhân cách người ta”. Dù ở cương vị nào (người đồng chí, đồng đội, người cha, người đứng đầu Chính phủ) dù người tiếp xúc đối diện là ai (cán bộ, đảng viên hay nhân dân, tướng lĩnh, đội viên nhỏ tuổi), thì cách ứng xử của Hồ Chí Minh bao giờ cũng chứa đựng nét văn hóa tôn trọng và chu đáo.

Hai là: Nói đến phong cách ứng xử văn hóa  Hồ Chí Minh chính là nói đến giá trị văn hóa ở việc sử dụng ngôn ngữ, phong cách giao tiếp phù hợp, chân thành. Điều này lý giải vì sao phong cách ứng xử của Hồ Chí Minh luôn có sức hút mạnh mẽ đối với mọi người. Chính nét văn hóa giản dị, gần gũi, cởi mở, tế nhị đó đã làm cho tất cả mọi người, dù khác nhau về địa vị, thành phần xuất thân, mục đích, điều kiện hoàn cảnh ứng xử song khi tiếp xúc với Bác, đều có chung cảm nhận về sự nể trọng, tôn kính bởi sức cảm hóa to lớn xuất phát từ đạo đức, nhân cách và phép ứng xử văn hóa của Người. Nét đặc sắc về văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh dường như đã xóa nhòa mọi rào cản, phá bỏ mọi ngăn cách về văn hóa, dân tộc, ngôn ngữ; về vị thế xã hội; về lập trường chính trị...

Ba là: Phong cách ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh luôn chứa đựng tình cảm chân thành và tinh thần khoan dung, độ lượng. Kế thừa và phát huy truyền thống nhân ái, bao dung của dân tộc, trong mọi hình thức giao tiếp, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện thái độ yêu thương, trân trọng, quý mến con người; khiêm nhường, khoan dung và độ lượng với con người. Thực tế, khi ứng xử với tất cả mọi người, từ những người nông dân đang lao động trên đồng ruộng cho đến người thương binh, bệnh binh đang nằm trên giường bệnh, từ bạn bè, đồng chí, anh em cho đến các cháu thiếu niên, nhi đồng hay với những người “đối lập” với mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng thể hiện thái độ tự nhiên, chân tình, cởi mở, vừa chủ động, linh hoạt cũng vừa ân cần, gần gũi làm cho bất kỳ ai dù chỉ được gặp Người một lần cũng cảm nhận rõ không khí ấm cúng, tình cảm, chan hòa mà gần gũi. Đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết về Người, về nhân cách Hồ Chí Minh, văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh: "Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu mà đã dường như thân thiết từ lâu". Văn hóa ứng xử của Người luôn quy tụ được mọi người vì đại nghĩa cho dân tộc và cách mạng Việt Nam.

Do vậy, kế thừa và phát huy những nét đặc sắc về phong cách ứng xử văn hóa  của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa hết sức quan trọng trong xây dựng văn hóa ứng xử cho cán bộ, đảng viên cũng như phê phán và đấu tranh với lối sống ứng xử vô cảm, thực dụng, vì lợi ích cá nhân trong xã hội hiện nay. Mặt khác, nó là “đơn  thuốc” chữa trị ‘bệnh” hiệu quả cho một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức đang mắc phải như “bệnh” quan liêu, tham nhũng, xa dân...

Quán triệt, học tập phong cách ứng xử văn hóa  của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa sâu sắc, nhất là trong điều kiện hiện nay toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang thực hiện chỉ thị 05 – CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng, trên cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả giải pháp tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô cùng to lớn của Đảng, của dân tộc, hướng mọi người đến với cuộc sống chân, thiện, mỹ. Giá trị văn hoá ứng xử Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống mãi với thời gian, là hành trang quý giá để Đảng và Nhà nước ta vận dụng và thực hiện thắng lợi việc xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Phong cách  ứng xử văn hóa Hồ Chí Minh đã chỉ ra sức mạnh, vai trò to lớn của văn hoá mới đối với cách mạng nước ta, đồng thời chỉ ra những chuẩn mực và cách thức cơ bản để xây dựng một nền văn hoá mới, trong đó có văn hoá ứng xử. Những chuẩn mực và cách thức đó đã được thực tiễn kiểm nghiệm trở thành phẩm chất và năng lực của người cán bộ, đảng viên trong quá trình lãnh, chỉ đạo cách mạng.