DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

                                                                                                                            Ths. Nguyễn thị Lan Anh

                                                P. Trưởng Khoa Nhà nước và Pháp luật

1.     Quan niệm về quyền hành pháp

          Quyền hành pháp mang bản chất cai trị, thông qua việc thực hiện quyền này, các hoạt động của xã hội được diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật. Tính cai trị không chỉ hiểu theo nghĩa tiêu cực mà phải được hiểu là sự quản lý công, theo đó, cơ quan nhà nước vừa là người tổ chức cho công dân thực hiện pháp luật, đồng thời là người cung cấp dịch vụ cần thiết cho công dân thực hiện quyền của mình. Chính vì vậy, cơ quan hành pháp luôn được coi là trung tâm của bộ máy nhà nước. Thực tế cho thấy, cơ quan hành pháp hoạt động hiệu quả là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của mỗi quốc gia, ngược lại, nếu không có một Chính Phủ tốt thì không thể có một quốc gia phát triển.

          Bản chất cai trị của quyền hành pháp thể hiện trên hai phương diện: thứ nhất, cơ quan hành pháp thực hiện các hoạt động quản lý hành chính công và thứ hai, cơ quan hành pháp thực hiện hoạt động đề xuất ban hành hoặc tự mình ban hành chính sách theo quy định của pháp luật. Hai phương diện hoạt động này có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi vì thông qua hoạt động quản lý hành chính công, xã hội nảy sinh những nhu cầu cần được giải quyết. Các nhu cầu của công dân và xã hội thường gắn với các chính sách cụ thể của Nhà nước. Thông qua hoạt động của mình, cơ quan hành pháp phát hiện ra các nhu cầu này và sẽ ban hành hoặc đề xuất ban hành các chính sách giải quyết. Ngược lại, khi các chính sách đã ra đời thì nó sẽ được tổ chức thực hiện và kiểm nghiệm trên thực tế thông qua phương diện hoạt động quản lý hành chính công. Như vậy, bản chất của quyền hành pháp là cai trị chứ không đồng nhất với quyền quản lý hành chính nhà nước. Nói khác đi, quản lý hành chính chỉ là một biểu hiện của quyền hành pháp mà thôi. Một Chính Phủ chỉ thực hiện chức năng hành chính thì Chính Phủ đó chưa thực sự nắm quyền hành pháp trong bộ máy nhà nước.

          Vậy hiểu quyền hành pháp ở Việt Nam như thế nào?

          Về mặt học thuật, thời gian qua nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu đã trình bày quan điểm của mình về quyền hành pháp. Các ý kiến đó đều thống nhất cho rằng quyền hành pháp là: quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia với những cấu phần cơ bản của quyền hành pháp là: quyền trình dự án luật, quyền lập quy và quyền truy tố, xử lý các vi pháp pháp luật; hành pháp phân biệt với hành chính là hoạt động chấp hành chính sách của các công chức, quyền hành pháp là quyền năng trực tiếp trong hoạch định, đệ trình chính sách và thực thi chính sách. Quyền này bao gồm: Chính phủ đề xuất chính sách, pháp luật để Quốc hội phê chuẩn, thông qua, để rồi theo nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chính phủ lại thực thi chính sách, pháp luật, truy tố tội phạm và đưa các hành vi vi phạm pháp luật (công tố) để Tòa án xét xử. Còn hành chính chỉ là một phương diện của hành pháp. Nếu hành pháp là hoạch định, đề xuất chính sách và định hướng vĩ mô thì hành chính là triển khai thực hiện chính sách đó; Chính phủ không phải chỉ có chấp hành (hành chính) mà trước hết là hành pháp, tức là chủ thể chủ động, sáng tạo trong việc xây dựng và thực thi chính sách quốc gia. Trong mối quan hệ với Quốc hội, Chính phủ là người xây dựng chính sách, pháp luật, Quốc hội là người thông qua, kiểm tra, giám sát các chính sách, pháp luật đã được thông qua.

          Các Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thể hiện nội dung này từ năm 1992, nhưng lúc đầu còn khá dè dặt, chưa có quy định về quyền hành pháp mà chỉ mới quy định tách Chính phủ thành một thiết chế độc lập –“Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” chứ không còn là “cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” (tức Quốc hội) như tại Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp năm 1992 tại lần sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001 mới có quy định về ba quyền “lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đến Hiến pháp năm 2013 mới ghi nhận một cách rõ ràng quyền hành pháp và “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội” (điều 94). Hiến pháp còn quy định rõ thẩm quyền của Chính phủ theo hướng là cơ quan thực thi quyền hành pháp: ngoài việc “tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” như trước đây đã bổ sung nội dung “đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này” (Điều 96). Thủ tướng Chính phủ cũng được bổ sung nội dung “lãnh đạo việc xây dựng chính sách” (Điều 98). Có nghĩa là nội dung hoạch định chính sách- là nội dung cơ bản thể hiện tính độc lập tương đối, chủ động của Chính phủ đã được ghi nhận và đó là nội dung chính của quyền hành pháp so với quyền hành chính nhà nước đơn thuần trước đây.

2.Vai trò của Chính phủ trong thực hiện quyền hành pháp theo Hiến pháp năm 2013

 Từ trước đến nay, vị trí, tính chất của Chính phủ luôn được hiến định như một cơ quan phái sinh từ Quốc hội, là cơ quan chấp hành của Quốc hội và thực hiện chức năng hành chính nhà nước. Trừ Hiến pháp năm 1946 - lúc đó nguyên tắc này mới áp dụng bước đầu - Chính phủ còn chưa được quy định là cơ quan chấp hành của Quốc hội, thì các Hiến pháp sau này đều quy định tính chất này của Chính phủ. Thậm chí Hiến pháp năm 1980 còn coi Hội đồng Bộ trưởng - Chính phủ là cơ quan của Quốc hội (“cơ quan chấp hành và hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” - điều 109 Hiến pháp năm 1980).

Hiến pháp năm 2013 xác định lại vị trí, tính chất của Chính phủ, đưa lên hàng đầu tính chất là cơ quan hành chính riêng biệt, độc lập: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…” (điều 94).

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nghĩa là Chính phủ là một thiết chế độc lập nắm quyền thống nhất quản lý, điều hành các mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, trước hết là quyết định những vấn đề về chủ trương, cơ chế, chính sách, thể chế quản lý hành chính nhà nước. Có vị trí cao nhất nước về mặt quản lý hành chính nên chức năng hành chính của Chính phủ phải bao quát toàn bộ các công việc quản lý hành chính nhà nước của đất nước, của cả bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị. Thẩm quyền hành chính cao nhất của Chính phủ không chỉ đối với hệ thống hành chính nhà nước mà còn đối với cả hệ thống chính trị. Các quyết định của Chính phủ phải được tất cả các cơ quan, tổ chức trong xã hội, trong hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước tôn trọng và chấp hành nghiêm túc. Quy định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất còn là phản ánh một trật tự trong tổ chức và hoạt động của nền hành chính nhà nước, đề cao tính thứ bậc, tính thống nhất, thông suốt, có hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý, điều hành mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội.

Với quy định mới này khẳng định Chính phủ là một thiết chế độc lập - thiết chế hành chính (quản lý) phân biệt với thiết chế lập pháp - Quốc hội và thiết chế xét xử - Tòa án. Vị trí, tính chất này của Chính phủ đã định hình rõ hơn việc phân công quyền lực giữa Chính phủ, Quốc hội và Tòa án nhân dân tối cao và còn có sự phân biệt rất rõ về tính chất, có vị trí ngang nhau.

Tiếp đến, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận một chức năng, nhiệm vụ có tính chất nổi bật và cũng là quan trọng nhất, đó là Chính phủ “thực hiện quyền hành pháp”.

Nói đến Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, trước hết là nói đến việc phân công quyền lực giữa các nhánh quyền lực nhà nước, theo đó, Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp, Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp. Với chức năng thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ thực hiện việc hoạch định và điều hành chính sách quốc gia, tổ chức thực hiện Hiến pháp và pháp luật để duy trì và bảo vệ trật tự công cộng, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo về quyền con người, quyền công dân.

Hiến pháp năm 2013 đã quy định khái quát các nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng thể hiện quyền hành pháp của Chính phủ như: “Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội…”; “Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn…; “Thống nhất quản lý về kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế…; “Thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia” (Điều 96).

Hiến pháp vẫn tiếp tục giữ quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Tính chất là “cơ quan chấp hành của Quốc hội” của Chính phủ là việc Chính phủ có nhiệm kỳ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Thủ tướng Chính phủ phải là đại biểu Quốc hội, do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; Quốc hội bãi bỏ văn bản của Chính phủ trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; Chính phủ chấp hành và tổ chức thi hành các đạo luật, nghị quyết của Quốc hội. Quy định này bảo đảm thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với Chính phủ, là bảo đảm sự gắn bó chặt chẽ giữa Chính phủ và Quốc hội, bảo đảm tính thống nhất trong việc thực hiện quyền lập pháp và hành pháp. Và trên hết là thể hiện đúng nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Như vậy, với quy định khái quát “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”, Hiến pháp năm 2013 đã đồng thời thể hiện tính chất, vị trí, chức năng của Chính phủ trên ba phương diện: hành chính nhà nước, hành pháp, chấp hành của Quốc hội, gắn bó chặt chẽ với nhau. Chính vì vậy, cả về nhận thức và thực tiễn, các chức năng nói trên của Chính phủ có sự đan xen, quan hệ chặt chẽ với nhau, khó phân biệt, tách bạch.