DANH MỤCDANH MỤC

Chi tiết tin bài

                                                                                                              Nguyễn Thị Nga

                           Khoa Lý luận Cơ sở

Chất lượng giảng dạy phần học Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được hiểu là tỷ lệ tri thức mà người học tiếp nhận được về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như vận dụng những tri thức đó và thực tiễn giải quyết công việc.

Chất lượng giảng dạy phần học những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được quyết định bởi nhiều yếu tố, trong đó yếu tố về giảng viên, học viên và cơ sở vật chất là những yếu tố giữ vai trò quan trọng.

Thứ nhất, đối với giảng viên

Phần học Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thường được quan niệm cho rằng là một môn học nghiêng về mặt lý thuyết, có tính trừu tượng cao, khô khan nên dễ gây ra nhàm chán cho người học, khó tiếp thu. Thật sự về bản chất các môn học về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đều được khái quát từ thực tiễn cuộc sống, từ thực tế khách quan, do đó các môn học đều gắn với thực tiễn. Vì vậy, để học viên có thể nắm được những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời vận dụng những kiến thức đó vào trong thực tiễn công việc, trước hết chúng ta phải chú ý đến yếu tố giảng viên đầu tiên.

          Giảng viên là yếu tố quan trọng nhất cho chất lượng giảng dạy bởi vì giảng viên đóng vai trò là người hướng dẫn, dẫn dắt người học tiếp cận các tri thức, kiến thức phần học những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo mục đích của chương trình học. Do đó giảng viên phải trang bị chuẩn về chuyên môn. Giảng viên không chỉ nắm vững nội dung bài học mà mình truyền đạt mà phải nắm được kiến thức của cả chương trình môn học, phần học, có như vậy giảng viên mới liên kết, hệ thống hoá kiến thức cần thiết giúp người học dễ nắm bắt những nội dung chính của bài học, môn học, phần học. Khi giảng viên chuẩn về kiến thức chuyên môn tạo sự tự tin trong quá trình truyền thụ, tránh được sự phụ thuộc vào giáo án, chủ động dẫn dắt người học tiếp cận kiến thức theo mục đích của mình.

          Ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn, giảng viên cần phải có kinh nghiệm thực tiễn và kiến thức thực tiễn. Giàu kiến thức thực tiễn giúp giảng viên làm sinh động bài giảng, gắn kết giữa nội dung bài giảng với thực tiễn thông qua những minh hoạ, ví dụ từ thực tiễn; từ đó người học dễ tiếp thu bài, dễ nhớ bài và điều quan trọng là người học thấy nội dung bài giảng gắn liền với cuộc sống chứ không phải xa rời, khó hiểu.

Một yêu cầu không thể thiếu, đó là giảng viên còn phải có kỹ năng sư phạm. Kỹ năng sư phạm là một yếu tố góp phần quan trọng cho giờ giảng thành công hay thất bại. Kỹ năng sư phạm giúp giảng viên có phương pháp truyền thụ tốt, linh hoạt trong việc phối hợp các phương pháp, phương tiện giảng dạy, nắm bắt được tâm lý người học một cách nhanh chóng từ đó thu hút được người học một cách có hiệu quả. Trong giảng dạy có nhiều phương pháp truyền thụ kiến thức, phần lớn giảng viên thường sử dụng phương pháp thuyết trình, vì phương pháp này có nhiều ưu điểm, người dạy chủ động quá trình giảng dạy cả về tri thức và thời gian. Tuy nhiên, phương pháp này cũng dễ dẫn tới sự tiếp thu thụ động, buồn chán cho người học. Do đó, trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi phải có sự lựa chọn, phối hợp sử dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp với từng nội dung kiến thức, từng đặc điểm của lớp học. Kiến thức chuyên môn vững kết hợp với kỹ năng sư phạm giúp giảng viên chủ động trong quá trình truyền tải và nắm bắt thông tin từ người học từ đó có sự điều chỉnh hợp lý việc phối hợp các phương pháp giảng dạy.

          Phong cách giảng viên cũng giữ vai trò quan trọng, từ phong thái, tác phong, tư cách, tâm tư, tình cảm của người thầy sẽ quy định người học thích học hay không thích học, lôi cuốn hay không lôi cuốn họ vào môn học. Khi người giảng nhiệt huyết, “thổi hồn” được môn học sẽ thu hút được người học. Do đó, người thầy bao giờ cũng phải chuẩn về phong cách, từ giọng nói, điệu bộ, tâm trạng, xúc cảm,…

          Thứ hai, đối với học viên

          Giảng dạy là quá trình tác động biện chứng giữa người dạy và người học, người học là đối tượng tiếp nhận thông tin mà người dạy hướng đến, do đó, người học có tác động không nhỏ đến chất lượng giảng dạy nói chung, chất lượng giảng dạy phần học những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng.

          Trong quan niệm mới về giáo dục, học viên là trung tâm của quá trình giảng dạy, học viên tiếp nhận kiến thức không phải một cách thụ động mà là chủ thể của quá trình nhận thức, chủ động trong việc tiếp nhận thông tin. Học viên trong chương trình Trung cấp lý luận chính trị-hành là những cán bộ được cơ quan cử đi học. Họ là những người trực tiếp làm việc tại cơ sở, có kiến thức về thực tiễn sâu sắc và đa số là cán bộ có vị trí nhất định tại cơ quan, đơn vị. Với đối tượng học viên như thế, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy phần học những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vậy những yếu tố nào của học viên quyết định đến chất lượng giảng dạy phần học những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?

+ Một là, trình độ nhận thức và kinh nghiệm thực tiễn của học viên

Trình độ nhận thức và kinh nghiệm thực tiễn của học viên là các yếu tố đảm bảo cho họ thích ứng được với các điều kiện học tập, yêu cầu và nhiệm vụ học tập. Có thể nói, đối với những học viên có trình độ nhận thức cao, có kinh nghiệm thực tiễn trong công tác, thì họ hứng thú hơn trong học tập. Ngược lại, khả năng nhận thức không cao, ít kinh nghiệm trong công tác có thể dẫn đến tình trạng bi quan, chán nản, thiếu phấn đấu trong học tập.

Do đặc điểm đào tạo Trung cấp lý luận chính trị - hành chính là đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý đương chức, dự nguồn của Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân cấp cơ sở; cán bộ đương chức, dự nguồn trưởng, phó phòng, ban cấp huyện và tương đương; Trưởng, phó phòng thuộc sở, ban, ngành cấp tỉnh và tương đương. Nên khi vào học các học viên có trình độ khác nhau, vị trí công tác khác nhau, kinh nghiệm khác nhau… do đó, dẫn đến sự không đồng đều về trình độ nhận thức. Điều đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức giảng dạy và chất lượng học tập, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của tất cả các học viên.

+ Hai là, động cơ và mục đính học tập của học viên

Động cơ và mục đích học tập là một trong những thành tố chủ yếu của hoạt động học tập, tạo nên động lực thúc đẩy, lôi cuốn và kích thích học viên tích cực, chủ động trong quá trình học tập. Tuy nhiên, vẫn còn một số học viên còn tỏ ra mơ hồ, thiếu trách nhiệm với việc học của mình (học cốt để lấy tấm bằng “làm hành trang để phát triển”, thậm chí có học viên còn cho rằng học để “trả nợ”…), không chịu khó học hỏi, cầu thị, ý thức học tập kém, thụ động, coi việc học là nhiệm vụ phải hoàn thành, vì vậy, việc học còn mang tính đối phó. Hơn thế nữa, một số học viên còn không xác định được, học các môn trong chương trình TCLLCT-HC để làm gì? Họ cho rằng phần học những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong chương trình là không cần thiết và không liên quan gì đến công tác của mình. Do đó, cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tính tích cực, chủ động của học viên.

+ Ba là, thái độ đối với học tập của học viên

Thái độ đúng đắn trong hoạt động học tập là điều kiện cần thiết để hình thành động cơ, hứng thú học tập ở học viên. Tuy nhiên, ở nhiều học viên vẫn còn có thái độ xem thường việc học tập phần học những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, họ cho rằng cứ vào học là sẽ tốt nghiệp, từ đó, dẫn đến tư tưởng trung bình chủ nghĩa trong học tập, thoả mãn với những cái có sẵn, ngại đào sâu suy nghĩ, tìm tòi để nắm vững và mở rộng tri thức.

 + Bốn là, tâm lý e ngại của học viên

 Xuất phát từ sự không đồng đều về trình độ nhận thức của học viên, nên trong quá trình học, một số học viên có khả năng diễn đạt, có kinh nghiệm thực tiễn thì họ tích cực, chủ động trong học tập, thường xuyên góp ý xây dựng bài; ngược lại, có một số học viên không có khả năng diễn đạt, chưa có kinh nghiệm thực tiễn thì họ lại e ngại, nhút nhát, thiếu chủ động trong học tập.

          Thứ ba, cơ sở vật chất, phương tiện dạy học

          Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học có tác động nhất định đến quá trình dạy học. Cơ sở vật chất tốt tạo môi trường thoải mái cho cả người dạy và người học. Phương tiện dạy học tốt, đặc biệt là phương tiện hiện đại giúp giảng viên tăng thêm sự hấp dẫn của bài học, lôi cuốn học viên qua những hình ảnh, phim minh hoạ hoặc những sơ đồ hoá kiến thức nội dung bài giảng giúp học viên dễ nhớ bài, nhớ lâu hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện hiện đại cũng có nhược điểm khi giảng viên sử dụng nó để thay thế từ hình thức ghi bảng sang hình thức trình chiếu hoặc khi người sử dụng chưa biết phát huy hết công dụng của các phương tiện hiện đại.

Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, tuy nhiên, các yếu tố người dạy, người học, cơ sở vật chất và phương tiện dạy học là những yếu tố cơ bản cần quan tâm, chú trọng hơn cả.